GIÁO PHẬN QUI NHƠN

Các bài suy niệm CN II MC

Các bài suy niệm Chúa Nhật II Mùa Chay - năm B - Nhiều tác giả

 

Cha Lombardi lên án các bài của tuần báo Espresso

Bài báo nhắm trực tiếp tấn công cá nhân phải bị coi là không xứng đáng và hẹp hòi. Nói rằng Văn phòng kinh tế không thi hành công việc của mình một cách liên tục và hiệu năng, đó là điều không đúng. Để khẳng định điều này, trong những tháng tới đây, Văn phòng Kinh tế của Tòa Thánh dự kiến sẽ công bố kết toán chi thu năm 2014 và ngân sách dự chi năm 2015 cho tất cả các cơ quan Tòa Thánh, kể cả chính Văn phòng kinh tế.

 

Giải Viết Văn Đường Trường - Bản tin số 3

Giải Viết Văn Đường Trường do Ban mục vụ Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn khởi xướng và đã tổ chức thực hiện đến năm thứ 3 (2015). Chương trình này muốn gợi lên nơi các bạn trẻ Công giáo ý định thử viết một truyện ngắn có nội dung Kitô giáo, rồi từ đó dần dần sẽ khám phá ra mình có khả năng sáng tác và có thể trau dồi khả năng này để phụng sự Thiên Chúa và Giáo hội.

 

Một số vấn đề về văn hóa của giới trẻ

Bài viết này nhằm tìm hiểu bản chất cũng như nguyên nhân hình thành những hiện tượng này và qua đó đưa ra một số nhận xét về văn hoá của giới trẻ Việt Nam đương đại cũng như ảnh hưởng của nó trong việc định hình phong cách sống của thanh niên. Bài viết tập trung vào ba hiện tượng trong văn hoá giới trẻ là thời trang, âm nhạc, và lối sống là ba đặc điểm chủ yếu đại diện cho ‘lối sống’ của thanh niên.

 

Chúa Nhật II Mùa Chay

Trong thực tế, với tư cách cá nhân, người ta không thể thăng hoa đổi đời nếu không chấp nhận, thay đổi bản thân, chấp nhận một cuộc lột xác như thể đổi mới nếu trước tiên không đổi mới tư duy. Nghĩa là phải đổi mới cách suy nghĩ, đổi mới cách nhìn và đặc biệt là đổi mới cách LÀM… và người đầu tiên cần thay đổi đó là chính mình chúng ta. (Lm. Gioakim Huỳnh Công Tân)

 

Phủ Quốc vụ khanh minh xác lời Đức Thánh Cha

Qua việc dùng thành ngữ ”tránh Mêhicô hóa” (evitar la mexicanización) trong một điện thư (email) riêng tư, ĐTC tuyệt đối không hề muốn làm thương tổn tình cảm của nhân dân Mêhicô mà ngài rất yêu quí, và cũng không hề không muốn biết tới sự dấn thân của chính phủ Mêhicô trong việc bài trừ nạn buôn bán ma túy.

 

Tìm hiểu Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo – Phần III: - Bài 14. Đức tin

Đức tin không đồng nghĩa với “kinh nghiệm”. Nhiều vị thánh đã làm chứng rằng các ngài phải trải qua “đêm tăm tối của đức tin” (số 165), trong đó, cảm nghiệm và cảm xúc hầu như hoàn toàn vắng bóng, chỉ còn sự tín thác đầy yêu thương. Nhưng chính trong những giờ phút tăm tối đó mà đức tin chiếu sáng, bởi lẽ sự vững vàng của đức tin phát xuất từ sự trung tín của Thiên Chúa.

 

Tuần tin Hội đồng Giám mục Việt Nam số 14/2015

– Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật 2 Mùa Chay: Được biến đổi hình dạng – Đức Thánh Cha Phanxicô khai mạc Mùa Chay – Đức giám mục Angaelos, Giáo hội Chính thống Copt: Tôi tha thứ cho ISIS – Chủ tịch Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) bày tỏ lòng thành kính với các Kitô hữu Ai Cập chịu tử đạo – Đức giáo hoàng Phanxicô tiếp kiến Thủ tướng Đức Angela Merkel – Indonesia: điển hình của sự hoà hợp và tôn trọng các nhóm thiểu số.

 

Thảo dược thời Chúa Giêsu

Người ta cho biết rằng thuốc dùng trong thời Chúa Giêsu ảnh hưởng nhiều bởi tiêu chuẩn y dược của Hy Lạp (*). Người Hy Lạp đã cách mạng hóa khái niệm và cách áp dụng thuốc, cũng ảnh hưởng người La Mã thời Chúa Giêsu. Đa số thuốc Hy Lạp liên quan 4 loại chất lỏng, hoặc “thể dịch” (humor), trong cơ thể con người (máu, đờm, mật đen, và mật vàng). Đa số thuốc dùng trong thời đó liên quan việc thay đổi mức độ các chất lỏng.

 

Lời nguyện giáo dân CN II MC

Chính Thập Giá mới là nơi Đức Kitô tỏ mình ra là Con Thiên Chúa. Nhưng Thập Giá là một mầu nhiệm khó chấp nhận “là cớ vấp phạm cho người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại”. Bởi đó qua cuộc biến hình, Đức Kitô đã củng cố niềm tin cho các Tông đồ và cho các ngài hiểu được phần nào mầu nhiệm ấy. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

 

Xuân Hội Ngộ 2015

Sau một năm học tập và làm việc xa quê, những bạn trẻ giáo xứ Tuy Hòa đã có cơ hội gặp gỡ, giao lưu và chia sẻ với nhau tại buổi họp mặt đầu xuân vào ngày Mồng 4 Tết vừa qua với chủ đề “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,14-19).

 

Giáo lý viên Tuy Hòa mang Lộc xuân đến với người già

Mùa xuân lại trở về, mọi người hân hoan đón tết cổ truyền của năm Ất Mùi, cùng chúc cho nhau mọi điều tốt đẹp, cùng chia sẻ niềm vui cho nhau. Trong tâm tình đó, giáo lý viên giáo xứ Tuy Hòa cũng xin được đem chút lộc xuân đến với những cụ ông cụ bà bệnh hoạn, tật nguyền, khó khăn, neo đơn… bao gồm cả giáo dân và lương dân.

 

Mùa Xuân về trên Giáo xứ Đại Bình

Trong tiết trời se lạnh đầu năm, giáo dân khắp muôn nơi của Giáo xứ Đại Bình cùng tề tựu trong thánh đường dâng Thánh lễ Minh Niên – Cầu bình an cho năm mới. Cũng khung cảnh ấy, những con người quen thuộc ấy nhưng tất cả được khoác lên mình những bộ cánh mới lộng lẫy và đẹp đẽ nhất, ai ai cũng hớn hở vui tươi.

 

Ngày Xuân tại Giáo xứ Hoa Châu

Năm Ất Mùi này niềm vui của giáo xứ Hoa Châu được nhân đôi khi cha sở đã tổ chức cho giáo dân có được Phúc - Lộc - Thọ của Thiên Chúa đến với giáo xứ

 

Một chút tâm tình Xuân Thánh Hiến

Tại Giáo xứ Vĩnh Thạnh, năm nay lần thứ ba cha sở đã chọn ngày mồng 4 Tết để dâng thánh lễ đặc biệt về ơn gọi, đời sống thánh hiến. Cũng giống như bao thánh lễ khác, nhưng ở đây khác một điều là sự hồ hởi, vui vẻ của các soeurs, các thầy, chủng Sinh, tập sinh và dự tu trong giáo xứ, nói lên tình hiệp nhất yêu thương và liên đới với nhau.

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ tư - 24/10/2012 07:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc