Giáo Phận Qui Nhơn

Mùa hè tại Giáo xứ Hoa Châu

Tận dụng những ngày hè, cha sở Hoa Châu đã mở hai lớp học dành cho trẻ em và thanh thiếu niên. Lớp học đàn organ thời gian 3 tháng, do thầy Giuse Túc Trần Trọng Phú Dung dạy. Lớp Luân Lý Tính Dục Kitô Giáo, thời gian 5 buổi: từ 19h đến 20h30 do bác Vincente Nguyễn Duy Nha, một giáo lý viên kinh nghiệm thuộc Giáo Phận Sàigòn phụ trách.

 

Vatican tu chỉnh Giáo Luật về các hình phạt tội lạm dụng

Giám mục Arrieta nói rằng bộ Giáo Luật hiện hành, được phê chuẩn năm 1983, nhấn mạnh đến vai trò của cá nhân vị giám mục trong giáo phận địa phương của mình đến nỗi mỗi vị giám mục như gánh vác hết sức nặng khi phải quyết định can thiệp khi nào và như thế nào, và loại chế tài hay sự trừng phạt nào dành cho người phạm tội.

 

Tân giám mục giáo phận Mỹ Tho: Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm

“Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, cho đến nay là Giám mục hiệu toà Trofimiana và Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Sàigòn, làm Giám mục giáo phận Mỹ Tho (Việt Nam)”.

 

Giảng lễ Anrê Phú Yên tại Mằng Lăng

Ngài được gọi là "Người chứng thứ nhất" vì ngài là người đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam đã làm chứng cho Tin Mừng một cách công khai và chính thức trước mặt quan quyền, mở màn cho cả một truyền thống chứng nhân tử đạo ở những thế kỷ tiếp theo tại Việt Nam nói chung, và tại giáo phận Qui Nhơn nói riêng với thánh Phanxicô Isidore Gagelin Kính, linh mục, tử đạo năm 1833; thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, trùm cả, tử đạo năm 1855; thánh Stêphanô Cuénot Thể, giám mục, tử đạo năm 1861, nhiều vị tôi tớ Chúa và hàng ngàn người khác gồm linh mục, tu sĩ và giáo dân đã chết vì đạo Chúa trong 3 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. (ĐGM Matthêô Nguyễn Văn Khôi)

 

Anrê Phú Yên - Anh không chết đâu anh!

Nếu nhạc sĩ Khánh Băng và Nhật Trường còn sống và được mời viết về Anrê Phú Yên, tôi chắc rằng để hỏi "Giờ này anh ở đâu?" Khánh Băng sẽ nâng câu trả lời của mình lên tầm cao mới, sẽ không dừng lại nơi các thao trường ... đậm tình huynh đệ chi binh nhưng sẽ là trong tim mọi người, đặc biệt các giáo lý viên vì với họ, quỳ nơi thánh địa Mằng Lăng, các giáo lý viên đã chẳng từng thốt lên với anh câu hát của Trần Thiện Thanh đó sao: Anh không chết đâu anh…

 

Tổng hợp hình ảnh hội trại Giáo Lý Viên 2014

Như thường lệ, hội trại năm nay được tổ chức tại nhà thờ Giáo xứ Mằng Lăng với gần 700 bạn trẻ và giáo lý viên đến từ các giáo xứ trong giáo phận Qui Nhơn. Chủ đề được chọn năm nay “GIÁO LÝ VIÊN VÀ GIỚI TRẺ SỐNG ĐỨC ÁI THEO GƯƠNG Á THÁNH ANRÊ PHÚ YÊN”, như một sợi dây xuyên suốt trong các hoạt động của hai ngày qua.

 

Giáo huấn 34 : Đào tạo tinh thần phục vụ

Gia đình Kitô hữu được mời gọi sống phục vụ con người vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. «Như Đức Kitô thực thi vương quyền của Người bằng cách hiến thân phục vụ con người, thì người Kitô hữu cũng tìm được ý nghĩa đích thực của việc tham dự vào vương quyền của Chúa mình bằng cách chia sẻ tinh thần và thái độ phục vụ đối với con người

 

Giáo huấn 33 : Phát huy truyền thống đạo hiếu

Đạo hiếu chi phối mọi hành vi, cử chỉ và lời nói của con người đối với cha mẹ. Một người con hiếu thảo không những phải luôn ý tứ trong lời nói và cử chỉ để khỏi làm cho cha mẹ phải buồn, mà hơn nữa, còn phải tránh làm những gì phương hại đến thanh danh cha mẹ, ngược với ý muốn của cha mẹ nếu đó là những ý muốn tốt đẹp

 

Các bài suy niệm CN XVII TNA

Các bài suy niệm Chúa Nhật XVII Thường Niên - Năm A - Nhiều tác giả

 

Chúa Nhật XVII Thường Niên A

Để có được viên ngọc quý cần phải bán tất cả những gì mình đang có. Đó là việc kinh doanh của cuộc sống, hay đúng hơn là kinh doanh của cuộc sống đời đời. Các thánh là những người đã có được cái khôn ngoan đó và khéo léo sử dụng để đạt được thành công trong công việc kinh doanh nước trời này. Tuy nhiên, rất nhiều người bị lừa bởi của cải và thú vui của cuộc sống trần thế và họ không có thể sở hữu được "viên ngọc" vô giá của ơn cứu độ và sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa. (Lm. Giuse Võ Tá Hoàng)

 

Lời nguyện giáo dân CN XVII TNA

Nước Trời thật là một kho tàng vô giá, một viên ngọc quí báu, mà bất cứ người khôn ngoan nào cũng đều nhất quyết tìm kiếm và chiếm hữu cho được. Chúng ta tha thiết cầu xin Chúa những điều đẹp lòng Chúa, nhất là ơn khôn ngoan, để biết cân nhắc những sự trên đời và lợi dụng những cái mới cũ trong kho mình mà mua lấy những của không hư mất trên trời.

 

Giáo xứ Tuy Hòa: Các em giáo lý vào đời 3 tuyên hứa lên đường

Thời gian thấm thoát thoi đưa đã dẫn các em đến khúc quanh quyết liệt của cuộc sống. Giờ đây, các em không còn ở tuổi thiếu nhi, quá lệ thuộc, dựa dẫm vào người khác, nhưng bước vào tuổi thanh niên, các em đã tự nguyện tự giác sống đức tin, chọn Chúa làm lẽ sống của đời mình

 

Sống yêu thương II (Hoa Biển 14)

Bến bờ; Hành trình miền Tây; Trang viết đầu; Mẹ là mẹ ruột của con; "Cúp" điện; Hai mặt đồng tiền; "Bố đen" We love Bố!

 

Khóa tu nghiệp Toà án hôn phối tại Toà Giám mục Nha Trang

Việc quy tụ nơi đây không phải là tìm cách tháo gỡ những gì Thiên Chúa đã liên kết, nhưng tìm cách giúp cho đời sống hôn nhân thêm phong phú và trong sáng, theo đúng ý định của Thiên Chúa, ngõ hầu mang lại hạnh phúc cho con người, nhất là những người nghèo, những người cô thân cô thế, những người bị thiệt thòi trong đời sống gia đình.

 

Trại hè Giáo xứ Tân Dinh

Hội trại được diễn ra trong hai ngày 20-21/7 với sự tham gia của gần 150 học viên giáo lý thuộc các khối lớp từ căn bản đến vào đời được chia thành bốn tiểu trại Chung bước, Lên đường, Phục vụ và Chứng nhân. Các bạn đã tích cực tham gia tất cả các trò chơi, các hoạt động trong hội trại, và đặc biệt là tất cả mọi người đều thực hiện tốt kỷ luật trại.

 

Phải chăng Vũ Trụ do ''ngẫu nhiên'' mà có?

Nếu Vũ Trụ này là ''vô nghĩa'' thì các nhà bác học vô thần là những người KHÔNG TƯỞNG (2) vì, (bằng những lập luận không có sức thuyết phục tôi và TUYỆT đại đa số người khác), họ phải UỔNG công chứng minh ''Đấng-Không-Có'' khiến tôi tự nghĩ: ''Họ cũng nên khẳng định rằng Cổ Thành Erbil ở Iraq là DO TÌNH CỜ MÀ CÓ cách đây chừng 10.000 năm, CHỨ CHẲNG CÓ AI dựng nên nó cả!''

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ tư - 24/10/2012 07:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc