GIÁO PHẬN QUI NHƠN

Nền tảng Kinh Thánh và Giáo Hội Học của gia đình Kitô giáo

Với Tông huấn Amoris Laetitia, Đức Phanxicô không đưa ra những giải pháp hợp thời cho những tình trạng không phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội, không thay đổi một giáo huấn nào cũng không đưa ra những luật lệ hay nhượng bộ nào mới mẻ. Ngài không thay đổi nhưng chuyển đổi nội dung giáo huấn về hôn nhân và gia đình từ cái nhìn luật pháp sang một quan điểm dựa trên nhân đức bác ái, yêu thương, một nhãn quan có kinh thánh dẫn lối đưa đường và một nền tảng Giáo hội học vững chắc. (Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính)

 

Nơi đây có ơn lành

Người dân Nước Mặn nghĩa giàu Kính trên nhường dưới đâu đâu cũng tường. Tuy nghèo mà rất dễ thương Cõi lòng khao khát Thiên Đường bấy lâu. Như đồng gặp nước đổi màu Lúa xanh, rau tốt người mau nghe lời.

 

Địa sở Thác Đá

Từ 1889 đến sau năm 1900, tất cả những sở họ cũ được tái lập, thêm đông đúc nhờ có người ngoại giáo cải đạo, ngoại trừ Lò Gốm ở phía trước Mỹ Thọ, phía bờ sông bên kia. Mỹ Thọ, Vạn, Tân Đức được hồi sinh, nhập vào địa sở mới Hội Đức. Những sở mới nổi lên đây đó: Định Bường, Diên Khánh, Lại Đức, Lại Khánh.

 

Ngày Năm Thánh của giáo lý viên: “Chúa đã sống lại. Không có nội dung nào quan trọng hơn thế!”

“Chúa đã sống lại. Không có nội dung nào quan trọng hơn thế!”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên trong bài giảng Thánh lễ dành cho các giáo lý viên trên khắp thế giới trong Ngày Năm Thánh dành cho các giáo lý viên, cử hành vào Chúa nhật 25 tháng Chín 2016 tại Quảng trường Thánh Phêrô.

 

Vai trò của lương tâm trong những quyết định luân lý liên quan đến gia đình

Theo sự phân tích và tổng hợp của linh mục James Martin, S.J, tông huấn Amoris laetitia của Đức Giáo Hoàng Phanxicô gồm 10 điểm chính, trong đó vai trò quan trọng của lương tâm đối với những quyết định luân lý được xếp vào điểm thứ hai. Lương tâm được minh nhiên đề cập đến ở các số 37, 42, 83, 222, 265, 279, 298, 300, 302, 303 và được gián tiếp liên hệ đến ở nhiều số khác trong tông huấn. (Gm. Matthêô Nguyễn Văn Khôi)

 

Ở đây hôm nay có thật thiên đàng

Vâng, Thiên Chúa luôn là chỗ dựa cuối cùng, và là đáp số cho những phận người đang mang nặng những nổi oan khiên và bao nhiêu bất công, thảm cảnh mà họ đang cam chịu trong cuộc đời trần thế. Và đó cũng chính là cách chọn lựa của Đức Kitô, của Hội Thánh : đứng về phía người nghèo, làm điểm tựa cho họ, mang cho họ niềm hy vọng tin yêu.

 

Các thông báo được đọc khi nào trong Thánh lễ?

Liệu các thông báo cho cộng đoàn, chẳng hạn ngày họp thanh niên, khóa học hôn nhân, ngày nào buổi cầu nguyện sẽ được tổ chức, vv, có nên đọc sau khi Rước lễ không, thưa cha? Hoặc liệu chúng nên đọc sau khi lễ xong (nghĩa là ngoài phụng vụ)? Liệu đàn phong cầm (organ) có được tiếp tục chơi nhẹ nhàng, khi linh mục tráng chén sau Rước Lễ, và nhà tạm vẫn còn mở cửa?

 

Lịch Phụng Vụ Tháng Mười

lịch phụng vụ tháng 10

 

Quy chế mới của Bộ Tuyên Thánh về việc nhìn nhận các phép lạ

Theo nguyên tắc, mọi án phong chân phước đòi hỏi phải có một phép lạ (trừ các vị được công nhận là tử đạo), và mọi án phong thánh đòi hỏi phải có một phép lạ thứ hai được công nhận. Việc điều tra các phép lạ đôi khi phải mất nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, để phân định được một hiện tượng nào đó là do Thiên Chúa, chứ không phải là những hiện tượng có thể giải thích được bằng khoa học.

 

Thao thức về trau dồi tiếng Việt cho người trẻ

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hàn Mạc Tử (21/9/1912-2012), một số tác giả văn thơ Công giáo đã có dịp gặp gỡ và cùng nhau chia sẻ thao thức về nhu cầu khẩn cấp phải giúp các bạn trẻ Công giáo trau dồi tiếng Việt. Bản thao thức này cũng đã được các tác giả văn thơ góp ý thêm nhân dịp lễ trao giải cuộc thi lần thứ IV, 21-22/9/2016.

 

Lời chia sẻ của ban tổ chức Giải Viết Văn Đường Trường

Việc giữ gìn tiếng Việt là trách nhiệm của mọi người. Đang khi nhiều người khác không biết dựa vào đâu để cổ võ sự phục hưng cho tiếng Việt thì người Công giáo may mắn có hệ thống giáo xứ. Chúng ta cần vận động tất cả phụ huynh và bạn trẻ ở các giáo xứ tích cực hưởng ứng, mới mong đạt kết quả cao.

 

Họp mặt trao giải Viết Văn Đường Trường lần IV - 2016

Kể từ dịp họp mặt nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hàn Mạc Tử (2012), lễ trao giải Viết Văn Đường Trường IV là cuộc họp mặt lần thứ năm của các tác giả văn thơ Công giáo. Cuộc họp mặt lần này diễn ra tại hội trường Chủng viện Qui Nhơn từ chiều 21 và trọn ngày 22-9-2016.

 

Kết quả Giải Viết Văn Đường Trường lần IV (2016)

Cuộc thi Giải Viết Văn Đường Trường năm nay không có giải nhất, chỉ có một giải nhì, ba giải ba và 17 giải triển vọng.

 

Tổng kết Giải Viết Văn Đường Trường 2016

Giải “Viết Văn Đường Trường” do Ban mục vụ Văn hóa và Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn khởi xướng và tổ chức, nhằm tìm kiếm và xây dựng đội ngũ các tài năng văn xuôi cho văn học Công giáo. Giải được tổ chức liên tục hằng năm trong 6 năm liền (2013-2018) dành cho thể loại truyện ngắn mang nội dung Kitô giáo, đến nay đã là năm thứ 4. Trãi qua 4 năm, như mục tiêu ban đầu, BTC nhận thấy rằng: Chúng ta vẫn cần phát hiện thêm nhiều tài năng và phát huy năng lực sáng tạo của họ để đóng góp những tác phẩm giá trị cho nền văn học Công giáo.

 

Các bài suy niệm CN XXVI TN

SUY NIỆM LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 26 TN C Lời Chúa: Am 6, 1a.4-7; 1Tm 6,11-16; Lc 16, 19-31 Nhiều tác giả

 

Lễ Thánh Matthêô - Bổn mạng Đức cha Matthêô

Lễ kính Thánh Matthêô Tông đồ ngày 21.09 - Bổn mạng Đức Giám Mục Matthêô được tổ chức nhân dịp các Linh mục Giáo phận về dự đợt thường huấn từ ngày 19.09.2016 đến ngày 22.09.2016. Thánh lễ diễn ra lúc 5 giờ 30 chiều tại nhà thờ Chính Tòa với sự hiện diện đông đủ các linh mục đồng tế, các nữ tu thuộc các hội dòng trong Giáo phận cùng toàn thể cộng đoàn dân Chúa trong và ngoài giáo xứ.

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ ba - 23/10/2012 20:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc