Giáo Phận Qui Nhơn

Hỏi-Đáp về Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền thông xã hội thứ 48

Vào ngày 24-1-2014, Đức giáo hoàng Phanxicô đã công bố một Sứ điệp đặc biệt nhân Ngày Thế giới Truyền thông xã hội (NTGTTXH) thứ 48 được cử hành vào ngày 1-6-2014. Để giúp các thành viên của các Ban Mục vụ Truyền Thông và các tín hữu học hỏi, đào sâu Sứ điệp này, Uỷ ban Truyền thông xã hội trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã soạn một số câu Hỏi-Đáp như sau:

 

Đọc lại truyện ngụ ngôn “ếch ngồi đáy giếng”

Do đó nó tỏ thái độ nhâng nháo, xấc xược tự coi mình là chúa tể và lấy đó làm oai. Như vậy ếch đã làm vẩn đục môi trường xã hội. Quan hệ ứng xử công bằng, văn minh, hiểu biết giữa “chúa tể” ếch với cư dân đã bị phá vỡ. Tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng khiến các con vật bé nhỏ hoảng sợ là kiểu ngôn ngữ “miệng nhà quan có gang có thép” hay nói cách khác là kẻ mạnh luôn luôn thắng. Những con vật bé nhỏ khác trong giếng phải sợ sệt nhún nhường ếch cũng là điều tất yếu.

 

Thiên Chúa đã chiến thắng trong sự thất bại !

Thiên Chúa tỏ ra cho chúng ta thấy một cuộc chiến thắng khiêm tốn mà dưới cái nhìn nhân loại xem ra thất bại. Chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa chiến thắng trong sự thất bại! Vì thế, Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá như một kẻ chiến bại : khổ nhục, bị phản bội, chê bai và cuối cùng là cái chết.

 

Thánh lễ làm phép dầu thánh

Vào lúc 17g30, ngày 15.04.2014, Đức Giám mục Giáo Phận chủ sự Thánh lễ làm phép dầu, với sự hiện diện của Cha Tổng Đại Diện, quí cha Hạt Trưởng, quí Cha trong Giáo Phận, quí tu sĩ nam nữ, chủng sinh và rất đông anh chị em giáo dân. Mở đầu Thánh Lễ, Đức Cha đã nêu lên tinh thần hiệp nhất trong Giáo Hội nói chung, và cách riêng giữa Giám mục và Linh Mục đoàn. Sự hiệp nhất này thể hiện qua việc ban phát các bí tích, tình yêu thương, tinh thần phục vụ...

 

Tân Phúc-Âm-Hóa không phải là...

‘Tân Phúc-Âm-hóa’ không có nghĩa là loan báo một tin mừng khác, nghĩa là một nội dung hoàn toàn mới so với lời loan báo căn bản, đầu tiên và tối hậu, như thánh Phaolô đã nói với giáo đoàn Galát và Côrintô (x. Gl 1, 6-9 ; 1Cr 15, 1s). Đó cũng không phải là sự cải thiện Tin Mừng, bởi vì Tin Mừng tự bản chất không thể hoàn thiện hơn, cũng không chịu bất cứ sự hao mòn nào của thời gian, vì Tin Mừng là chính Đức Kitô, Đấng luôn luôn mới... (ĐGM Matthêô Nguyễn Văn Khôi)

 

Lễ làm phép dầu

Sự kiện dầu được thánh hiến chỉ vào thời gian này, trong Tuần Thánh này, để rồi được dùng trong cả năm, điều đó nhắc nhớ chúng ta rằng mỗi khi sử dụng những dầu thánh này trong bất kỳ thời điểm nào trong năm thì cơ bản nó cũng được liên kết với những mầu nhiệm mà chúng ta sẽ cùng nhau cử hành trong Tuần Thánh này: đó là mầu nhiệm tình yêu. Thiên Chúa chỉ vì yêu thương con người nên đã xuống thế gian, chịu nạn chịu chết để cho con người chúng ta được sống. (Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính)

 

Giáo xứ Đồng Tre: đã có một ngày như thế

Vào Chúa Nhật 5 Mùa Chay, ngày 06/04/2014, lần đầu tiên, giáo xứ Đồng Tre “đi ra” khỏi biên giới của mình, để vươn tay đón lấy những người con xa xứ. Ba mươi sáu đứa con đã qui tụ đón “mẹ” tại Nhà thờ An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong một khu vực đông người di dân, bên cạnh khu công nghiệp Sóng Thần rộng lớn.

 

Sống đạo giữa đời I (Hoa Biển 13)

Sống đức tin; Thức tỉnh; Lỡ hẹn thật rồi, nữ tu ...; Nỗi lòng của mẹ; Chúa ơi con đã sai; Tôi yêu em; Mùa đông ấm áp;

 

Lễ hội Acies - Curia Quảng Ngãi

Toàn thể hội viên Legio Mariæ lặp lại lời hứa trung thành với Đức Maria - Nữ Vương của Legio để được nhận lãnh nơi Đức Mẹ sức mạnh và phúc lành, sẵn sàng dấn thân làm tông đồ và thánh hóa bản thân. Niềm vui mừng của toàn thể hội viên trong ngày lễ hôm nay được nhân lên gấp bội là được Cha Linh giám Curia, Hạt trưởng Giáo hạt Quảng Ngãi cùng quý Cha Linh giám các Præsidia của các giáo xứ cùng hiện diện trong Lễ Hội và Quý Cha đồng tế cử hành Thánh lễ cầu nguyện cách riêng cho Hội.

 

Các thực tại xã hội trong 14 chặng đàng thánh giá tại Côlôsêô ngày 18/04

Trong bài suy niệm được viết cho Đàng Thánh Giá ngày thứ sáu Tuần thánh tại Coloseo, TGM Bregantini đã lồng vào đó hình ảnh những vết thương của thế giới hôm nay. Trong đó có thảm kịch của những người nhập cư, các vết thương của những người nữ phải chịu vì bạo lực, những tổn thương của các trẻ nhỏ bị lạm dụng, nỗi đau của những người mẹ mất con trong các cuộc chiến tranh, trong suy đồi của ma túy hay trong vòng xoáy của rượu chè.

 

Chúa Nhật Lễ Lá - Bế giảng khóa Giáo Lý Hôn Nhân

Vào lúc 17g30, ngày 13.04.2014, Chúa Nhật Lễ Lá được cử hành một cách trọng thể với sự chủ tế của cha sở Giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn và hai cha phó. Đầu Thánh lễ là nghi thức làm phép lá, cử hành lại ngày dân Do Thái đón đức Chúa Giêsu vào thành thánh Giêrusalem.

 

Lời nguyện giáo dân Lễ Chầu Dầu

Cùng với linh mục đoàn của Giáo phận đang tụ họp nơi đây, chúng ta hãy cầu xin Chúa thánh hóa hàng giáo sĩ và tất cả chúng ta nhờ các Bí tích Chúa đã lập, đặc biệt Bí tích Rửa tội, Bí tích Mình Thánh Chúa và Bí tích Truyền Chức Thánh.

 

Lễ Lá tại Giáo xứ Đa Lộc

Trong tâm tình sám hối của Mùa Chay, bà con giáo dân Đa Lộc như ý thức được ý nghĩa thiêng liêng của Tuần Thánh nên đã tập trung khá đông để chuẩn bị cho nghi thức kiệu lá trước tiền sảnh nhà giáo lý: diễn lại cảnh tượng dân Do Thái xưa long trọng và hân hoan rước Chúa Giêsu khải hoàn vào thành thánh Giêrusalem như một Đấng Mêsia, để tuyên xưng và nêu cao vương quyền và vinh quang của Ngài...

 

Đóng đinh thập giá: bị bỏ rơi hay mạc khải?

Tin Mừng Marcô trình bày một Đức Giêsu chết trong sự bỏ rơi hoàn toàn (Mc 15, 25-39). Trình thuật này rất khác với các Tin Mừng khác trình bày Đức Giêsu dường như kiểm soát được tình huống khi tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình hoặc nói chuyện với hai người cùng bị đóng đinh. Trong Tin Mừng Marcô, Đức Giêsu dường như câm lặng sau khi bị Philatô kết án. Các môn đệ hoàn toàn bỏ rơi Ngài.

 

Niềm vui ngày trở về

Cùng với Giáo Hội trong 40 ngày chay tịnh " hãy trở về", tối thứ 6, ngày 11. 4. 2014 cộng đoàn Giáo xứ Trà Kê vinh dự tiếp đón Quý Cha: Cha Antôn Nguyễn Huy Điệp, Gioan Võ Đình Đệ, J.b Võ Tá Chân đến để giúp cho cộng đoàn lãnh nhận bí tích giao hòa. Đây là dịp thuận tiện để cộng đoàn được giao hòa với Chúa, để Chúa nâng niu, ủi an. Đây là một truyền thống tốt đẹp mà các cha Quản xứ trong Giáo Phận thực hiện trong những dịp đại lễ.

 

Tôi là ai trước mặt Thiên Chúa của tôi?

Tuần thánh gợi lên một câu hỏi : Tôi là ai trước mặt Thiên Chúa của tôi? Phải chăng tôi giống như Giuđa hay Philatô, hoặc giống như Maria, Simon thành Cirênê, như những người nữ ở bên Chúa Giêsu cho đến khi Chúa chết? Tôi là ai trước mặt Chúa Giêsu đang chịu đau khổ?

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ ba - 23/10/2012 20:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc