Giáo Phận Qui Nhơn

Chúa Nhật XXX Thường Niên

Chúng ta được Chúa dựng nên, được phúc gọi Chúa là Cha, và mọi người đều là anh em với nhau. Như trong một gia đình, nếu con cái sống hòa thuận, yêu thương, đùm bọc nhau, cha mẹ là người rất vui sướng, và đó là một gia đình đầy hạnh phúc. Cũng vậy, Chúa cũng mong ước và luôn kêu gọi con cái mình thể hiện mối thân tình yêu thương nhau, ngỏ hầu họ được hạnh phúc và Chúa cũng thỏa lòng. (Lm. Phêrô Lê Thanh Phục)

 

Thánh lễ ban bí tích Thêm Sức tại Giáo xứ Huỳnh Kim (19/10/2014)

Vào sáng ngày 19 tháng 10 năm 2014, Lễ Khánh Nhật Truyền Giáo, Đức Cha Giáo phận về chủ sự Thánh lễ và cử hành việc ban bí tích Thêm Sức cho 69 em trong Giáo xứ Huỳnh Kim.

 

Lời nguyện giáo dân CN XXX TNA

Mến Chúa và yêu người là hai giới răn trọng nhất trong Đạo Thánh của Chúa. Vậy chúng ta hãy dâng lên những lời cầu xin Chúa kiện toàn lòng yêu mến trong chúng ta.

 

Giáo hội là thân thể Chúa Kitô

Giáo hội là thân thể Chúa Kitô! Và đó không phải chỉ là một cách nói: nhưng chúng ta thực sự là thân thể! Đó là ân sủng lớn lao mà chúng ta lãnh nhận trong ngày rửa tội của mình! Trong Bí tích Rửa tội, thực vậy, Chúa Kitô làm cho chúng ta thuộc về Người, đón nhận chúng ta nơi trung tâm của mầu nhiệm thập giá, mầu nhiệm tuyệt đỉnh của tình yêu dành cho chúng ta,

 

Lòng đạo đức bình dân: Hội nhập văn hóa để rao giảng Tin Mừng (phần II)

“Hội nhập văn hóa” là từ rất mới để nói về một vấn đề rất cũ: tương quan giữa đức tin với văn hóa. Ngay từ khi bắt đầu lịch sử Kitô giáo, các tông đồ và những người kế nhiệm đã phải đụng chạm đến vấn đề này. “Sự nhập thể” của Con Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại cần phải được loan báo cho muôn dân chứ không riêng gì dân tộc Do Thái. Và điều này đã đưa đến sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa đón nhận tin mừng nhập thể. (Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính)

 

“Relatio Synodi”: những điểm còn chưa đồng thuận

Đức Thánh Cha vẫn quyết định cho công bố toàn văn bản Relatio Synodi (với cả các con số phiếu thuận và phiếu chống của từng số), nhằm cho thấy rõ ràng bức tranh toàn cảnh của cuộc thảo luận tại Thượng Hội đồng và mức độ các nghị phụ đồng ý hay không đồng ý về nội dung của từng số. Hơn nữa bản Relatio Synodi này vẫn chỉ là một tài liệu làm việc, mà các Giáo hội địa phương sẽ dùng để thảo luận trong năm tới, cho đến Thượng Hội đồng Giám mục Khoá thường lệ thứ 14 về gia đình sẽ diễn ra vào tháng Mười 2015.

 

Lễ khai giảng năm học mới của Nhóm sinh viên Huệ Trắng Tuy Hòa

Hòa chung bầu khí lễ khánh nhật truyền giáo, nhóm sinh viên công giáo Huệ Trắng đã tổ chức lễ khai giảng năm học niên khóa 2014 – 2015. Khởi sự cho ngày khai giảng là Thánh Lễ vào lúc 17h00 do Cha Phêrô Lê Hoàng Vinh – Linh Hướng nhóm SVCG Huệ Trắng chủ sự.

 

Giáo xứ Quảng Ngãi họp Hội Đồng Mục Vụ

Giáo xứ Quảng Ngãi họp Hội Đồng Mục Vụ

 

Chùm thơ Hoa Biển 15

Đá cuội; Tìm danh Chúa; Dâng đôi tay; Biển đời; Chiếc lá; Phận người; Lặng; Đêm đông cầu nguyện; Lời Chúa trong tôi; Thánh lễ buổi sáng; Lễ Chúa Nhật; Mừng Mẹ về trời; Tấm lòng dâng Mẹ; Mẹ là suối mát; Legio - Hoa trắng nở; Gia đình thánh gia; Còn lại gì cho nhau; Ngòi bút tầm thường; Tuổi thơ; Đời cha; Cha; Hoa cỏ; Tình yêu của sương; Hạ; Xin; Thơ năm chữ

 

Lễ bổn mạng của giới Thầy Thuốc và Thầy Giáo tại Nhà thờ Chính Tòa

Thánh lễ mừng bổn mạng được cử hành vào lúc 05g30 chiều, do Đức Giám mục Giáo phận chủ tế, cầu nguyện đặc biệt cho giới Thầy thuốc và Thầy giáo. Đầu thánh lễ Đức Cha đã nói lên ý nghĩa của ngày lễ này, nhất là trong bài giảng, Đức Cha nhấn mạnh rằng chúng ta là những người Công Giáo cần phải thực hiện theo lời mời gọi của Chúa Giêsu,

 

Sứ điệp của Thượng Hội đồng Giám mục - Đại hội Ngoại thường lần thứ III

Chúng tôi, các Nghị phụ Thượng Hội đồng Giám mục, cùng với Đức Thánh Cha đã nhóm họp tại Roma trong Đại hội Toàn thể Ngoại thường của Thượng Hội đồng Giám mục, gửi lời chào đến mọi gia đình khắp các châu lục, và đặc biệt, đến mọi người theo Chúa Kitô, là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng tôi bày tỏ niềm ngưỡng mộ và tri ân anh chị em đã mang lại cho chúng tôi và thế giới chứng từ về lòng trung tín, niềm tin, niềm hy vọng và tình yêu.

 

Thánh lễ phong Chân phước cho Đức Phaolô VI (video)

Thánh lễ phong Chân phước cho Đức Phaolô VI tại Quảng trường Thánh Phêrô, sáng Chúa Nhật 19-10-2014

 

Lễ phong chân phước cho Đức Phaolô VI và bế mạc Thượng HĐGM thế giới

Sáng chúa nhật 19-10-2014, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trước sự hiện diện của 80 ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô để tôn phong ĐGH Phaolô VI lên bậc chân phước đồng thời bế mạc Thượng Hội đồng Giám Mục khóa đặc biệt thứ 3 sau 2 tuần tiến hành với chủ đề ”Những thách đố về việc mục vụ gia đình trong bối cảnh loan báo Tin Mừng”.

 

Độc đáo nhà thờ giấy chứa trên 700 người

Nhà thờ làm hoàn toàn bằng giấy cac tông, có thời hạn sử dụng 10 năm với sức chứa lên đến 700 người vừa được khánh thành tại thành phố Christchurch, New Zealand. Đây là một công trình mới mang phong cách hiện đại nhưng vẫn giữ được những nét cổ kính truyền thống.

 

Các văn kiện của Giáo hội liên quan đến đời sống thánh hiến

Tình yêu thánh hiến không phải là cái gì mơ hồ hoặc thoáng qua. Đó là một giao ước tình yêu. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tuyển chọn một người, dành riêng người đó ra để thi hành một sứ mệnh; một khi nhận thức ra tình yêu đặc biệt ấy, con người đáp lại tiếng gọi với một tình yêu tuyệt đối không chia sẻ.

 

Lòng đạo đức bình dân: Hội nhập văn hóa để rao giảng Tin Mừng (phần I)

Lòng đạo đức bình dân có một nhiệm vụ không thay thế được là mang phụng tự vào trong cuộc sống hằng ngày đến với các dân tộc thuộc các nền văn hóa và thời đại khác nhau, là dấu hiệu cho thấy đức tin đang vươn rễ vào trong tâm hồn của một dân tộc, chạm đến đời sống thường ngày. Chính vì thế mà lòng đạo đức bình dân đã hội nhập văn hóa là một sức mạnh rao giảng Tin Mừng. (Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính)

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ tư - 24/10/2012 07:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc