GIÁO PHẬN QUI NHƠN
EASTER

Ơn gọi tu trì: một huyền nhiệm của Tình Yêu

Mấy ngày qua trên trạng mạng Công Giáo, đó đây đăng tải sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô; rồi thư của các giám mục gởi cho từng thành phần dân Chúa trong đoàn chiên giáo phận mình để mời gọi mọi người cầu nguyện, cổ võ cho đời sống tu trì, các nhà dòng ráo riết chuẩn bị những tiếc mục văn nghệ, chương trình ppt để quảng bá, giới thiệu về đặc sủng, linh đạo của dòng mình hay về đời sống linh mục, tu sĩ

 

Thánh lễ tạ ơn 13 năm linh mục tại Đa Lộc

Vào lúc 19 giờ ngày 23 tháng 04 năm 2015, Thánh lễ tạ ơn Kỷ niệm 13 năm linh mục do cha Tôma Nguyễn Công Binh, Quản xứ Đa Lộc chủ tế, tại nhà thờ Đa Lộc. Cùng đồng tế với cha Tôma có các cha thụ phong linh mục cùng ngày tại Phú Yên : Cha Phanxicô Phạm Đình Triều, Quản xứ Trà Kê; cha Augustinô Nguyễn Văn Phú, Quản xứ Hóc Gáo; cha Phêrô Nguyễn Xuân Hòa, Quản xứ Gò Duối.

 

Hình ảnh thánh lễ mừng 40 năm linh mục cha Phêrô Nguyễn Công Sanh

Hình ảnh thánh lễ mừng 40 năm linh mục cha Phêrô Nguyễn Công Sanh

 

Giáo huấn số 22 : Chiếu tỏa niềm tin và mục vụ ơn gọi tu trì

Nhiều nơi đang trải qua một tình trạng thiếu ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đây thường là do thiếu một nhiệt tình tông đồ có sức lan toả trong các cộng đồng, dẫn đến sự nguội lạnh của niềm phấn khởi và sức hấp dẫn. Ở đâu có sự sống, nhiệt tình và ước muốn đem Đức Kitô đến cho người khác, ở đó sẽ xuất hiện các ơn gọi đích thực

 

Tuyên ngôn của Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn

Nhân danh tôn giáo để giết người không chỉ là một hành vi xúc phạm đến Thiên Chúa, mà còn là một thất bại của nhân loại. Ngày 09 tháng Giêng 2006, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, khi ngỏ lời với các phái đoàn ngoại giao và nói về mối nguy hiểm của các cuộc đụng độ giữa các nền văn minh và đặc biệt là nạn khủng bố có tổ chức, đã khẳng định rằng ‘Không thể biện minh cho hành vi tội ác như vậy, hành vi làm ô nhục chính những kẻ thực hiện nó, và lại còn còn ghê tởm hơn khi tội ác ấy núp bóng tôn giáo

 

Các bài suy niệm CN IV PS

Các bài suy niệm Chúa Nhật IV Phục Sinh - Cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ - Nhiều tác giả

 

Thừa tác viên giáo dân mang dây vai chéo của phó tế được không?

Trong Thánh Lễ, nếu có thể được, chứ không bắt buộc, một thừa tác viên ngoại thường cho Rước lễ có thể mặc chiếc áo chùng trắng (alba), hoặc một y phục khác được chấp thuận, miễn là nó không giống với y phục của linh mục hay phó tế.

 

Chúa Nhật IV Phục Sinh

Năm nay với chủ đề: Tân Phúc Âm Hóa và chiếu tỏa niềm tin của đời sống linh mục. Linh mục là người Mục tử nhân lành. Người mục tử được Chúa trao để chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Vậy chúng ta cầu nguyện cho các linh mục mặc lấy tâm tình như Đức Ki-tô đã yêu mến đoàn đoàn của Ngài, bằng đời sống hiến thân cho đoàn chiên. (Lm. Gioakim Nguyễn Quang Minh)

 

Tuần tin Hội đồng Giám mục Việt Nam số 22/2015

Nội dung: – Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật 4 Phục sinh: Mục tử nhân lành – Giáo hội Chính thống lo lắng về số phận của hai giám mục bị bắt cóc hồi năm 2013 – Đức Thánh Cha bày tỏ tình liên đới với Giáo hội Chính thống Ethiopia – Hỏi đáp Phụng vụ: Tác viên giáo dân mang dây stola như phó tế – Thánh tích Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đến Cuba – Công bố Sách Niên giám Toà Thánh và Sách Niên giám Thống kê Giáo hội.

 

Tông Chiếu Ấn Định Năm Thánh Ngoại Thường Về Lòng Thương Xót

Chúng ta cần phải liên tục chiêm ngắm mầu nhiệm của lòng thương xót. Đó là suối nguồn của niềm vui, sự thanh thản và bình an. Ơn cứu rỗi của chúng ta phụ thuộc vào đó. Lòng Thương Xót: là từ ngữ mạc khải các mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi. Lòng Thương Xót: là hành động cuối cùng và tối thượng qua đó Thiên Chúa đến gặp chúng ta. Lòng Thương Xót: là luật cơ bản ngự trị trong con tim của mỗi con người đang nhìn chân thành vào đôi mắt của anh chị em mình trên đường đời

 

Lòi nguyện giáo dân CN IV PS

Như vị Mục tử tốt lành luôn chăn dắt đoàn chiên, Thiên Chúa dùng lòng khoan dung mà chăm sóc và dùng tình thương mà cai quản Dân Ngài. Nhân ngày thế giới cầu cho Ơn Thiên Triệu, chúng ta sốt sắng dâng lời cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục, nam nữ tu sĩ và mọi người giáo hữu trên khắp hoàn cầu.

 

Thư ĐGM nhân ngày cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ

Chúa nhật IV Phục sinh được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành, vì hôm nay Hội Thánh mời gọi mọi người cùng chiêm ngắm khuôn mặt của Đức Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành, đã chết và sống lại để cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào. Người mời gọi những tâm hồn quảng đại noi gương Người dâng hiến cuộc đời để phục vụ và làm cho đoàn chiên Hội Thánh ngày càng thêm đông số. Vì thế, hôm nay cũng là ngày toàn thể Hội Thánh đặc biệt cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ trên toàn thế giới.

 

Đại hội Thánh nhạc Toàn quốc Việt Nam lần thứ 36

Chủ đề của Đại hội Thánh nhạc lần thứ 36 tiếp tục “đào sâu” về Bình Ca. Lần này, Lm Ns Kim Long trình bày đề tài “Tiết Tấu Bình Ca”. Bình Ca có tiết tấu nhưng không có nhịp, tiết tấu tự do, nên không thể “đánh nhịp” theo kiểu tân nhạc. Một bài hát có các câu nhạc hoặc nửa câu nhạc, mỗi câu hoặc nửa câu lại có các tiết nhạc, các tiết nhạc còn có tiết lớn hay nhỏ – gọi là “khởi” [α] và “tới” [θ].

 

Cần trả lại danh dự cho hôn nhân và gia đình

Cần trả lại cho hôn nhân và gia đình chỗ đứng danh dự. Sự kiện xã hội không đánh giá cao khế ước ổn định và truyền sinh của người nam và người nữ chắc chắn là một mất mát lớn đối với tất cả mọi người. Kitô hữu được mời gọi dấn thân say mê giữ gìn giao ước này của người nam và người nữ, cả khi họ là những người tội lỗi và bị thương tích, lẫn lộn và bị hạ nhục, mất tin tưởng và không chắc chắn.

 

Đại Hội Di Dân Giáo Phận Qui Nhơn tại Sàigòn

Có thể nói, Chúa Nhật III Phục Sinh 19.04.2015 là một ngày đáng ghi nhớ, vì đó là ngày mà người di dân được gặp gỡ, giao lưu, kết nối tình đồng hương huynh đệ, giúp nhau thăng tiến đức tin và nghề nghiệp. Tham gia Đại hội Di Dân có sự hiện diện của Đức Cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi, Giám Mục Giáo Phận Qui Nhơn, các Cha trong Ban Di Dân của Giáo Phận

 

Tòa Thánh kêu gọi Phật Giáo cộng tác chống nạn nô lệ tân thời

Sứ điệp của Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn nhắc đến giáo huấn của Phật giáo. Trong một phần của Bát chánh đạo, Đức Phật đã tuyên bố rằng việc buôn bán các sinh vật, kể cả những người nô lệ và mại dâm, là một trong những nghề mà các phật tử không được dấn thân vào (AN 5,177). Đức Phật cũng dạy hãy tìm kiếm của cải bằng phương thế ôn hòa, lương thiện và với những phương thế hợp pháp, không cưỡng bách, bạo hành, hoặc lường gạt (Xc AN 4,47; 5,41; 8,54).

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ ba - 23/10/2012 20:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc