GIÁO PHẬN QUI NHƠN

Thông báo tuyển sinh của Học Viện Công Giáo Việt Nam cho năm học 2017–2018

Để chuẩn bị cho năm học 2017–2018, Học Viện Công Giáo Việt Nam (HVCGVN) sẽ mở cuộc thi tuyển sinh viên cho hai lớp: – Năm I “Chương trình Cử Nhân Thần Học” (S.T.B.). Chương trình Cử Nhân Thần Học kéo dài năm năm, gồm hai năm triết học và ba năm thần học...

 

Thư ĐGM khai mạc Mùa Chay 2017

Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội khắp hoàn cầu bước vào Mùa Chay thánh, mở đầu lộ trình hoán cải trở về với Thiên Chúa, để được tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh của Đức Kitô. Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Giôel kêu gọi toàn dân Israel thời Cựu Ước: "Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Ngài từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương" (Ge 2,13).

 

Khánh thành hang đá Đức Mẹ Lộ Đức tại Xuân Quang (năm 1962)

Cha Giuse Trần Ngọc Châu, giáo sư chủng viện Qui Nhơn, sau khi làm các lễ phép tại hang đá, đã giảng thuyết về quyền phép Đức Mẹ và khuyên dụ mọi người luôn luôn chạy đến Mẹ trong hết thảy những khi vui buồn. Giọng nói khoan thai, dịu dàng và đầy sốt sắng đã khiến mọi người nức lòng tin tưởng nơi Mẹ một cách vững chắc.

 

Giáo sư Mathijs Laberights thăm Học viện Công Giáo Việt Nam

Giáo sư Mathijs Laberights có buổi gặp gỡ với các sinh viên Cao học Thần học của Học viện. Vị trưởng khoa hy vọng trong tương lai HVCGVN sẽ đạt tới tầm vóc quốc tế trong việc trao đổi chuyên môn cũng như chia sẻ những tư tưởng thần học với các nước khác. Ông tin rằng trong tương lai, nền Thần học Việt nam sẽ phát triển,

 

Nghiên cứu Công giáo ở Việt Nam qua ¼ thế kỷ

Vấn đề nghiên cứu Công giáo quốc tế ở Việt Nam vẫn yếu. Có thể chúng ta thiếu tài liệu, thiếu ngoại ngữ, ít được đi thực tế nên thường dùng các tài liệu dịch từ Liên Xô trước đây hay Trung Quốc ngày nay. Mà tại những nơi này do ý thức hệ mà nghiên cứu về Công giáo cũng chưa thực sự khách quan nên khi nhà nghiên cứu dịch ra tiếng Việt, người Công giáo Việt Nam thấy cứ như nói ở đâu

 

Câu “Giáo Hội như là bí tích” được hiểu thế nào?

Với sự ra đời của thần học Kinh viện, khái niệm Giáo Hội như là bí tích bị mờ khuất trong một thời gian, mặc dù ý tưởng đã dần dần hồi phục trong các thế kỷ XIX và XX. Chủ đề được thảo luận rộng rãi trong các thập kỷ trước Công đồng chung Vatican II bởi một số nhà thần học lớn.

 

Các bài suy niệm CN VIII TNA

CÁC BÀI SUY NIỆM CN 8 TN A 2017 Lời Chúa: Is 49,14-15; 1Cr 4,1-5; Mt 6, 24-34 Nhiều tác giả

 

Người Samari

Thật khó biết sự thù nghịch này bắt đầu từ khi nào trong lịch sử - khi nào người Do Thái và người Samari bắt đầu xem nhau như là những cộng đồng ly khai. Vào khoảng thời gian Đền thờ thứ hai, 2 V 17,24-41 đã giải thích về nguồn gốc của người Samari: họ là hậu duệ của các bộ tộc ngoại giáo do người Assyri đưa đến định cư tại vương quốc phía bắc của Israel,

 

Để hiểu những cuộc hiện ra ở Fatima

Những lần Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, mà năm nay Giáo Hội cử hành kỷ niệm 100 năm, thuộc về những gì mà chúng ta gọi là « những mạc khải tư » hay trào lưu ngôn sứ Kitô giáo. Thế nào là mạc khải tư ?

 

Thư thái ba về!

Xuân này Chúa gọi ba về Để con ở lại tái tê tím sầu. Vườn hoa đồng cảm cúi đầu Lệ rơi lá úa ghi câu đắng lòng.

 

Phó tế dang tay trong các nghi thức nào bên ngoài Thánh lễ?

Rõ ràng là không thích hợp cho một phó tế đọc lời nguyện với hai bàn tay dang rộng, hoặc Orans, trong Thánh Lễ. Nhưng bên ngoài Thánh Lễ, khi chủ sự, thí dụ, là phó tế đọc Kinh Lạy Cha trong nghi thức Rửa tội, liệu có là thích hợp cho phó tế đọc với đôi tay dang ra chăng?

 

Giải viết văn đường trường 2017 - Bản tin 05

Mới đó, thời gian đã trôi qua gần hết hai tháng của năm kỷ niệm 2017. Đây là năm “bản lề” của cuộc thi mà mãi đến cuối tháng Hai, mới có bản tin số 5. Số bài dự thi được đưa vào hồ sơ và đánh mã số, tới lúc này chỉ mới hơn 70 bài. So với các năm trước, tiến độ của cuộc thi năm nay khá chậm, có thể vì chủ đề đại kết đòi hỏi các tác giả phải đầu tư nhiều công sức, suy tư và cả dấn thân nữa.

 

Di dân Gp. Qui Nhơn tại Sàigòn họp mặt đầu năm

Sáng Chúa nhật 19-02-2017, gần 20 anh chị em di dân Giáo phận Qui Nhơn tập trung về Nhà chung giáo phận tại quận Gò Vấp để tham dự buổi họp mặt và dâng Thánh lễ cầu nguyện cho những người con xa quê của Giáo phận, cho người thân ở quê nhà.

 

Tưởng em một cành hoa sim tím

Màu tím hoa sim mang nỗi buồn da diết, Dấu thời gian có biền biệt đi qua, Tưởng về em ta ngắt một cành hoa, Em về nhé, một cành hoa sim tím !

 

Các bài suy niệm Chúa Nhật VII TN A

CÁC BÀI SUY NIỆM LỜI CHÚA CN 7 TN A 2017 Lời Chúa: Lv 19,1-2.17-18; 1Cr 3,16-23; Mt 5,38-48 Nhiều tác giả

 

Khúc Sêraphim ngân hoài theo năm tháng

Chiếc lá về cội, Chiếc lá vừa rơi trong đêm, Bầu trời hơi tối lại, Khi một ánh sao chợt vừa vụt tắt ! Cánh én ngoài kia, Tối nay mang nốt trầm hiu hắt, Không phải mùa xuân mà với một tin buồn !

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ ba - 23/10/2012 20:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc