Giáo Phận Qui Nhơn

Đề tài học hỏi tháng 10: Thánh Giám Mục Stêphanô Thể và Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Do

Đây là vị thánh đã phục vụ Giáo hội Việt Nam 32 năm, trong đó 26 năm với chức vụ Giám Mục. Tòa Giám Mục của Ngài thường là chòi tranh, lẫm lúa, bụi tre, hầm tối, ghe thuyền. Châm ngôn Giám mục của ngài: “tất cả nhờ thập giá”.

 

Cha Auguste Macé Sĩ (1844-1885)

Sau khi đã học tiếng trong một xứ đạo nhỏ gần trường Làng Sông, ngài được gởi vào tỉnh Phú Yên và phụ trách một hạt có mười ba xứ đạo. Giáo xứ Cây Da, nơi Cha Chatelet đã tử đạo, ở trong số này. Nhà truyền giáo trẻ bắt đầu làm việc hăng say. Đôi khi ngài rời xa các giáo dân để đi thăm một trong các bạn đồng hội của mình

 

Vị trí đúng của chủ tế trong nghi thức đầu lễ

Bài viết này cố gắng tìm hiểu lý do dẫn đến những thực hành hiện nay bằng cách lần giở lại Thánh lễ trước Công đồng Vatican II cho đến Thánh lễ ngày hôm nay được cử hành như thế nào và đã có những thay đổi gì? Với dữ liệu lịch sử như vậy, cộng với những tài liệu hướng dẫn mới đây của Giáo Hội cũng như dựa trên ý nghĩa của chiều kích "từng chặng" trong cử hành phụng vụ Thánh lễ, hoàn toàn có thể khẳng định rằng vị tư tế khởi sự nghi thức đầu lễ tại ghế chủ tọa mới là xác đáng.

 

Kinh Thánh cho biết Dưỡng Phụ Giuse chẳng có người con nào hết!

''Gia phả Chúa Giêsu Kitô, Con của Ðavít, Con của Abraham: Abraham sinh Ysaac, Ysaac sinh Giacop, GIACOP SINH Giuđa VÀ CÁC ANH EM CỦA ÔNG...'' Như vậy, KHÔNG VÌ VÔ TÌNH, mà DO Thánh Ý Chúa HƯỚNG DẪN, tông đồ Matthêô BÈN viết: ''GIACOP SINH Giuđa VÀ CÁC ANH EM CỦA ÔNG...'' Nhưng, ngược lại, trong Mat.1,16 THÌ KHÔNG CÓ nhóm chữ VÀ CÁC ANH EM CỦA ÔNG mặc dù ''NHÀ GIACÓP MỚI'' có VUA GIÊSU, tức là ''THIÊN-CHÚA-CỨU-THẾ'' NGỰ TRỊ như Lời Chúa phán qua Sứ Thần: ''và Ngài sẽ làm Vua trên NHÀ GIACOP đến MUÔN ĐỜI, và vương quyền của Ngài sẽ VÔ TẬN!"

 

Cuộc hội thảo của ký ức và thao thức

Cuộc hội thảo của ký ức & thao thức. Đức GM Giuse Vũ Duy Thống, chủ tịch Ủy ban Văn hóa (Hội đồng Giám mục Việt Nam), đã định nghĩa như vậy nhân cuộc hội thảo “Kỷ niệm 50 năm áp dụng Huấn thị Plane Compertum est về tôn kính ông bà tổ tiên” tại Trung tâm Mục vụ TGP Sài Gòn.

 

Lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Muốn vào Nước Trời thì cần phải biết suy nghĩ, cương quyết, khôn ngoan, dũng cảm. Tuy nhiên Chúa Giêsu muốn mọi người chúng ta phải sống như trẻ nhỏ, tức là phải cần có những cách cư xử đang yêu như trẻ thơ, phải có thái độ cởi mở, hồn nhiên, luôn tin tưởng và sống phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta, nhân ngày lễ hôm nay, hãy suy nghĩ thêm về cuộc đời của Têrêsa. Chúng ta sẽ thấy rằng, trên con đường thánh, người ta trở thành trẻ thơ khi nhận ra Thiên Chúa là Đấng giàu lòng yêu thương. (Lm. Gioan Baotixita Võ Tá Chân)

 

Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo (XIV)

Theo nguồn tin chính thức, bài nói chuyện của Đức HY Kasper tại mật nghị hội Hồng Y hồi đầu năm nay sẽ không được công bố cho công chúng. Không hẳn vì sợ gây hoang mang, cho bằng bài nói chuyện này có đối tượng chuyên biệt, tức các vị có nhiệm vụ đưa ra các đề cương cho hai thượng hội đồng giám mục thế giới sắp tới về gia đình. Chính vì thế, mặc dù có lời yêu cầu công khai của Đức HY Reinhard Marx của Munich, bài diễn văn này vẫn chưa được chính thức công bố cho dân chúng.

 

Dự thảo hướng dẫn tổng quát việc dạy giáo lý tại Việt Nam

Sống trong một đất nước có nhiều dân tộc, nhiều nền văn hoá và nhiều tôn giáo khác nhau, thậm chí vô thần, giáo lý viên không những phải thông thạo về Lời Chúa mà còn phải thấu hiểu các giá trị văn hóa của dân tộc, các chân lý tiềm tàng nơi các tôn giáo và các vấn đề nhân sinh để có thể đồng hành với mọi người trong cuộc lữ hành hướng về một chân lý cứu độ duy nhất.

 

Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội đồng Giám mục về Gia đình (5–19/10/2014)

Để giúp mọi người hiệp thông với Thượng Hội đồng Giám mục, chúng tôi xin giới thiệu với quý độc giả Tài Liệu Làm Việc nói trên, bản tiếng Việt của linh mục Luy Nguyễn Anh Tuấn. Tài liệu dày 100 trang A5, dạng pdf, 580KB.

 

Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo (XIII)

Nay là lúc phải rút ra một số kết luận từ cuộc điều tra dài dòng của ta về ly dị và tái hôn. Về vấn đề tòa trong, rõ ràng huấn quyền chưa chấp nhận khả thể “giải pháp tòa trong” đã được đề nghị từ thập niên 1970. Điều này thấy rõ trong giáo huấn Familiaris consortio của Đức Gioan Phaolô II, trong Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, và trong nhiều công bố của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Sự trì chí của một số người trong việc tìm ra các tiểu dị trong giáo huấn này hình như chưa được biện minh. Đối với hoàn cảnh tranh cãi, đường hướng chính thức vẫn là: nếu cuộc hôn nhân không thành hiệu, người ta có thể chứng minh điều đó ở tòa ngoài. ...

 

Giáo xứ Mằng Lăng Khai Giảng Năm Học Giáo Lý

Ngày 28.9.20143, giáo xứ Mằng Lăng đã long trọng tổ chức Lễ Khai Giảng Giáo Lý niên khóa 2014-2015. Năm nay Khai giảng Giáo lý trễ hơn vì tình hình mục vụ của giáo xứ, và Cha sở Phêrô Trương Minh Thái cho tu sửa, lắp các thiết bị cần thiết cho các phòng học giáo lý, và chuẩn bị cho các Giáo lý viên… Liên tục trong hai tuần, các Giáo lý viên đã tiếp nhận các em, hoặc trực tiếp, hoặc do phụ huynh đưa đến đăng ký.

 

Hoán cải mục vụ: chương trình hành động của tiến trình tân Phúc Âm hóa

Trong khung cảnh giới hạn của một cuộc thường huấn, xin được giới thiệu một trong những chủ đề khá trọng tâm của văn kiện nầy : HOÁN CẢI MỤC VỤ (CONVERSION PASTORALE). Bởi vì, có thể nói được, đây chính là : CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA TIẾN TRÌNH TÂN PHÚC ÂM HÓA mà ĐTC Phanxicô đề nghị cho toàn thể Hội Thánh. (Lm. Giuse Trương Đình Hiền)

 

Tổng Lãnh Thiên Thần

Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ trọng thể ba TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE, RAPHAE,GABRIE như một lời nhắc nhở: Con người là tạo vật của Thiên Chúa, và hơn nữa là con Thiên Chúa nên “Ngài đã sai Thiên Thần nâng đỡ bạn để bạn khỏi vấp chân vào đá, giữ gìn bạn trên vạn nẻo đường, bạn có thể dẫm lên hùm thiêng rắn độc đạp nát đầu sư tử khủng long”(Tv 90). Hơn thế nữa, ba tổng lãnh Thiên thần mà hôm nay chúng ta mừng kính cách đặc biệt có những vai trò rất cụ thể để cứu giúp con người. (Lm. Phaolô Lộc Nguyễn Kim Điện)

 

Hàng chục nghìn người già đã gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Bênêđictô XVI tại quảng trường thánh Phêrô

Một dân tộc không biết gìn giữ những người già và không làm điều tốt cho họ là một dân tộc không có tương lai! Tại sao không có tương lai?. Bởi vì ký ức bị đánh mất, bị bứng khỏi các căn cội của nó. ..Không có tương lai cho một dân tộc mà không có sự gặp gỡ giữa các thế hệ, không có những người con đón nhận chứng từ cuộc sống từ đôi tay cha mẹ với lòng biết ơn.

 

Lịch Phụng Vụ Tháng Mười

Chuỗi Mân Côi là một lối cầu nguyện theo Tin Mừng, là một chuỗi tình yêu gồm những lời yêu thương chân thành và đơn sơ nhất. Hãy nhìn ngắm, tôn thờ, chiêm ngưỡng và suy niệm những mầu nhiệm của Chúa Giêsu. Và hãy thì thầm những lời ca ngợi, những câu nài xin với Đấng đã ban cho chúng ta Đấng Cứu Thế.

 

Giáo huấn 43 : Giáo dục tuổi vào đời

«Các đôi bạn Kitô hữu làm việc tông đồ trong chính gia đình mình, bằng một đời sống đúng theo luật Chúa dưới mọi khía cạnh, bằng việc đào tạo về mặt giáo lý Kitô giáo cho con cái, giúp chúng trưởng thành trong đức tin, giáo dục đức khiết tịnh, chuẩn bị cho chúng vào đời, săn sóc để chúng tránh những nguy hiểm về ý thức hệ và luân lý mà chúng đang bị đe dọa.

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ tư - 24/10/2012 07:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc