Giáo Phận Qui Nhơn

Ai tín : thân phụ của linh mục Augustinô Nguyễn Văn Phú qua đời

Cụ GIUSE NGUYỄN VĂN BAI Sinh ngày 17 tháng 07 năm 1931 Tại Phú Thịnh, An Thạch, Tuy An, Phú Yên Thuộc giáo họ Hội Tín, Giáo Xứ Mằng Lăng Từ trần lúc: 3h00, ngày 22 tháng 09 năm 2014

 

Bài giảng của Đức Thánh Cha : Hãy tiến bước và nuôi dưỡng niềm hy vọng hướng về một tương lai rộng lớn

Các con thân mến, các con là thế hệ trẻ của đất nước Albani, là tương lai của tổ quốc. Bằng sức mạnh của Tin mừng và mẫu gương của ông bà tiên tổ, mẫu gương các vị tử đạo, các con hãy biết nói không với việc tôn thờ tiền bạc! nói không đối với tự do giả tạo của chủ nghĩa cá nhân, nói không với sự lệ thuộc và bạo lực; trái lại hãy nói có đối với nền văn hóa gặp gỡ và cộng đoàn, nói có đối với vẽ đẹp không thể chia lìa bởi cái tốt đẹp và đúng đắn

 

Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo (IX)

Từ trước tới nay, tập sách này đề cập tới lịch sử ly dị và tái hôn trong Giáo Hội. Phần này sẽ bàn tới các khó khăn mục vụ phát xuất từ tình trạng người ta đã ly dị và tái hôn phần đời, các phán định của Giáo Hội về tình trạng này liên quan tới vấn đề lãnh nhận Thánh Thể cũng như các vấn đề và gợi ý đã nẩy sinh từ các suy tư về tình trạng này.

 

Linh mục cử hành lễ an táng cho người Tin lành được không?

Một linh mục Công Giáo có thể cử hành lễ an táng cho một người Tin Lành tại một nơi như khuôn viên trường đại học được không? Theo Bộ Giáo luật, điều 1183.3, "người đã rửa tội và gia nhập vào một Giáo Hội hay Giáo Ðoàn ngoài Công Giáo, được an táng theo nghi lễ Giáo Hội" trong một số điều kiện nhất định. Liệu điều này có hàm ý rằng buổi lễ phải diễn ra trong một nhà thờ Công Giáo không?

 

Trinh Nữ Maria được truyền tin ''trước hay sau'' ngày đính hôn?

Câu hỏi ở tựa đề hẳn khiến độc giả Kitô hữu ngạc nhiên. Vậy mà có người cho rằng Đức Trinh Nữ Maria ''được đính hôn'' với Thánh Giuse SAU KHI thiên thần Gabriel TRUYỀN TIN cho Nàng!!! Do đó, tôi xin ''tuyên xưng'' NGƯỢC LẠI bằng cách dựa VÀO các BẰNG CHỨNG sau đây:

 

Giáo huấn 42 : Đào tạo lòng yêu mến Lời Chúa

Các nghị phụ Công đồng Vatican II thiết tha nhắn nhủ mọi Kitô hữu «Hãy năng đọc Thánh Kinh». Thánh Giêrônimô nói «Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô». Theo đó gia đình nên liệu cho mỗi con em có một quyển Thánh Kinh. Tốt hơn nên chọn những quyển có in phần dẫn nhập và chú giải vì tiện lợi cho việc học hỏi Thánh Kinh.

 

Đức Thánh Cha tiếp kiến 94 Giám Mục mới thuộc các xứ truyền giáo

dưỡng 2 tuần lễ ở Roma, do Bộ truyền giáo tổ chức. Trong số các vị có 4 GM Phụ Tá của Việt Nam: Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo (Xuân Lộc), Đức Cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long (Hưng Hóa), Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Viên (Vinh) và Đức Cha Giuse Trần Văn Toản (Long Xuyên).

 

Loan báo Tin Mừng bằng niềm vui và nhiệt tình - Một con đường tân Phúc Âm Hóa

Điều quan trọng trước hết đối với người loan báo Tin Mừng chính là nhiệt tình và nhiệt tình bao hàm niềm vui, hay đúng hơn chính niềm vui cứu độ được cảm nhận trong cuộc sống tạo nên nơi người tín hữu một nhiệt tình nóng bỏng muốn lên đường loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Niềm vui tự nó có sức thu hút. Do đó có thể nói, theo tông huấn Evangelii Gaudium, loan báo Tin Mừng bằng niềm vui là một phương pháp vừa phù hợp với bản chất của Tin Mừng, vừa dễ được đón nhận bởi một thế giới đang cần đến niềm vui để sống. (Gm. Matthêô Nguyễn Văn Khôi)

 

Thông tin về nội san Hoa Biển 15

Cứ mỗi dịp Tồng kết và Trao giải “Giải văn thơ Lm. Đặng Đức Tuấn”, cùng tham gia cuộc Hành hương thăm một số giáo xứ và giáo điểm trong Giáo phận, các cây bút trẻ lại có dịp cảm nghiệm tình thương của Thiên Chúa và đời sống Kitô hữu ở nhiều vùng miền khác nhau. Rất nhiều những kỉ niệm, những cảm xúc, những ấn tượng khó phai đã được họ ghi lại qua trang viết của mình. Và dường như những yêu thương ấy đã nối kết họ lại với nhau trong một Tình Yêu vĩnh cửu của Nước Trời.

 

Các bài suy niệm CN XXV TNA

Các bài suy niệm Chúa Nhật XXV Thường Niên - Năm A - Nhiều tác giả

 

Khóa Thường Huấn Linh Mục năm 2014

Theo truyền thống, cứ vào khoảng tháng 9 hằng năm, mùa khai giảng, các linh mục Giáo phận Qui Nhơn lại thu xếp công việc của giáo xứ để cùng nhau tham dự khóa thường huấn linh mục hằng năm tại Chủng Viện Qui Nhơn. Khóa thường huấn năm nay được tổ chức từ ngày 16 đến 19 tháng 9.

 

Thánh lễ trao ban thừa tác vụ phó tế

Tại nhà thờ Chính tòa Qui Nhơn, vào lúc 17g30 thứ Tư ngày 17 tháng 9, Đức cha Matthêô đã cử hành thánh lễ trao ban thừa tác vụ phó tế cho 10 đại chủng sinh Qui Nhơn. Cùng hiệp dâng thánh lễ đồng tế có Đức cha Phêrô và tất cả các linh mục trong giáo phận đang tham dự khóa thường huấn linh mục năm 2014 tại Chủng Viện Qui Nhơn, với sự tham dự của các chủng sinh, nữ tu các hội dòng, ân thân nhân và đông đảo giáo dân.

 

Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo (VIII)

Bản thảo hiến chế Vui Mừng Và Hy Vọng từng cho thấy một sự thay đổi trong lối hiểu hôn nhân. Nó không còn chỉ là một dụng cụ, một phương tiện, nhưng bản chất của giao ước bất khả tiêu giữa hai con người, và nhất là thiện ích của con cái đòi họ phải yêu nhau thật sự. Tính đơn nhất bất khả tiêu tự nhiên của hôn nhân được ơn thánh của bí tích củng cố, như lời Công Đồng Trent dạy.

 

Chúa Nhật XXV Thường Niên

Chúng ta phải nhớ rằng: chính Thiên Chúa yêu thương kêu gọi mỗi người chúng ta trong mỗi hoàn cảnh khác nhau vào làm việc cho Ngài. Chúng ta phải biết cảm tạ Chúa vì Ngài đã thương tuyển chọn ta làm việc cho Ngài, cộng tác với Ngài trong chương trình đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Chúng ta có nhận được những điều gì thì đó là do tình yêu của Thiên Chúa ban cho một cách nhưng không mà thôi. Chúa gọi, chúng ta trả lời, Chúa ban phát, chúng ta lãnh nhận. (Lm. Giuse Huỳnh Thanh Thiện)

 

Lời nguyện giáo dân Chúa Nhật XXV

Thiên Chúa là Cha toàn năng, hằng yêu thương và chăm sóc hết mọi người. Ngài luôn kêu mời chúng ta dấn thân phục vụ, xây dựng vườn nho Chúa là Hội Thánh. Chúng ta tin tưởng dâng lên Chúa mọi ước vọng và xin Ngài chúc lành cho xứ mạng của mỗi người chúng ta.

 

Giảng lễ trao ban thừa tác vụ phó tế

Dưới ánh sáng của những đoạn Thánh Kinh được tuyên đọc trong thánh lễ hôm nay, chúng ta thấy thừa tác vụ phó tế là một chức thánh đã xuất hiện ngay từ đầu lịch sử Hội Thánh, là bậc đầu tiên trong phẩm trật chức thánh của Giáo Hội gồm phó tế, linh mục, giám mục. Qua bí tích truyền chức thánh, các phó tế được ghi một ấn tín thiêng liêng không thể tẩy xóa. (Gm. Matthêô Nguyễn Văn Khôi)

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ ba - 23/10/2012 20:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc