Tìm hiểu Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo – Phần III: Đời sống mới trong Đức Kitô - Bài 10. Công bằng

Công bằng là trả lại cho người lân cận những gì chúng ta mắc nợ họ (GLHTCG 1807). Vì không ai chỉ sống cho mình, nên nhân đức làm nền tảng cho đời sống chung cũng là nhân đức nền tảng. Trong giáo huấn Công giáo về các nhân đức, đức công bằng được khai triển theo 3 hướng.

 

ĐHY Filoni đến thăm Tổng Giáo phận Sài Gòn

ĐHY Filoni đã chủ sự Thánh lễ đồng tế trong ngôi thánh đường 135 tuổi của Sài Gòn vào sáng ngày 25-01-2015 với sự tham dự của gần 1.500 tu sĩ và giáo dân.

 

Thánh lễ an táng Cha Gioakim Đoàn Kim Hiền

Tại Nhà thờ Chính Tòa Qui Nhơn, vào lúc 7g sáng thứ Hai ngày 26 tháng 1, Đức cha Matthêô đã chủ sự thánh lễ an táng cha Gioakim Đoàn Kim Hiền đã qua đời vào ngày 23 tháng 1 vừa qua. Cùng đồng tế trong thánh lễ có Nguyên Giám mục Phêrô Nguyễn Soạn và khoảng 70 linh mục trong ngoài giáo phận, với sự tham dự đông đảo của các tu sĩ, chủng sinh, thân nhân và giáo dân ở những nơi cha Gioakim đã phục vụ trong suốt cuộc đời linh mục.

 

Thành lập Hội đồng giáo xứ Vĩnh Thạnh

Từ 5h30 sáng Chúa Nhật thứ III Thường Niên, 21 thành viên đã có mặt tại nhà xứ, với nét mặt hoan hỉ và chờ đợi đón Đức Giám Mục trong cái gió lành lạnh của buổi sáng. Tất cả bà con giáo dân của Giáo Xứ Vĩnh Thạnh lần lượt đến để tham dự thánh lễ tuyên hứa của Hội Đồng Giáo Xứ.

 

Bí tích Thêm sức trước khi lãnh nhận bí tích hôn phối?

Con được rửa tội từ lúc nhỏ. Khi lớn khôn, con được xưng tội rước lễ lần đầu. Vì phải đi lo kiếm sống, nên con không có tiếp tục đi học giáo lý và chưa chịu phép Thêm Sức. Hiện nay, con có quen với một người có đạo và muốn đi đến hôn nhân. Vậy con có phải đi học giáo lý để chịu phép Thêm Sức trước khi lãnh nhận phép Hôn Phối không?

 

Loan báo Tin Mừng, tái loan báo Tin Mừng,

Bài thuyết trình gồm hai phần chính. Phần thứ nhất tìm hiểu ý nghĩa của từ evangelizatio trong lịch sử. Phần thứ hai tìm hiểu những đợt sóng “mới” của việc loan báo Tin mừng trong lịch sử, dựa theo cha Cantalamessa và cha Menin. Kết luận: những bài học về cái mới.

 

ĐTC Phanxicô kêu gọi tha thiết cầu nguyện và dấn thân cho sự hiệp nhất các kitô hữu

Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin chung với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật hôm qua tại công trường thánh Phêrô ĐTC Phanxicô đã khích lệ mọi người tiếp tục cầu nguyện và dấn thân cho sự hiệp nhất trọn vẹn giữa các Kitô hữu.

 

Giáo huấn số 09 : Chiếu tỏa niềm tin bằng đời sống hiệp nhất

Chúa nhật hôm nay cũng ngày kết thúc: Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu. Sự hiệp nhất của Dân Chúa chính là mục tiêu và cũng là động lực giúp cho công cuộc Tân Phúc Âm hóa đạt được hiệu quả đích thực

 

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô cho Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 49

Gia đình là một chủ đề được Giáo hội suy tư sâu sắc và có liên quan đến hai Thượng hội đồng Giám mục: Thượng hội đồng Giám mục khóa ngoại thường mới đây và Thượng hội đồng Giám mục khóa thường lệ sẽ diễn ra vào tháng Mười tới. Vì vậy, tôi nghĩ thật là thích hợp khi chọn chủ đề nói về gia đình cho Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội sắp tới.

 

Đức hồng y Filoni thăm giáo phận Đà Nẵng

Buổi chiều ngày 23/1/2015 đã trở thành một sự kiện lịch sử trong giáo phận Đà Nẵng nói riêng, và Giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung khi một Thánh lễ sau đó được cử hành trọng thể tại Nhà thờ chính toà, vừa để bế mạc Năm Thánh tại giáo phận sở tại (Năm Thánh bắt đầu từ 18/1/2013), vừa kỷ niệm 50 năm thành lập giáo phận Đà Nẵng...

 

Tuần tin Hội đồng Giám mục Việt Nam số 09/2015

Tuần tin Hội đồng Giám mục Việt Nam số 09/2015

 

Các bài suy niệm CN III TNB

Các bài suy niệm CN III TNB - Nhiều tác giả

 

Giáng Sinh nồng ấm yêu thương (II)

Điều Ước Nhỏ; Giáng Sinh Một Mình; Giáng Sinh Xa Quê; Tình Thương Vô Hạn; Yêu; Chiếc Kẹp Tóc

 

Chúa Nhật III Thường Niên

Người ta sẽ nói: cách sống của các Tông đồ (từ bỏ tất cả) chỉ có thể đòi hỏi nơi các giám mục, linh mục tu sĩ, còn giáo dân làm sao có thể thực hiện được. Nhưng đọc lại Tin Mừng, chúng ta thấy lời kêu gọi của Chúa Giêsu được gửi đến tất cả mọi người, những người đang sống trên trái đất này ở mọi nơi mọi thời, lý do Ngài đưa ra “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã đến gần”.(Lm. Phêrô Đặng Son)

 

Đức Hồng Y Fernando Filoni chủ sự Thánh Lễ đại triều Kính Đức Mẹ La Vang

Sau cuộc gặp gỡ với Hàng Giáo sĩ và Cộng đoàn Dân Chúa của Giáo tỉnh Huế, lúc 17g15 ngày 22.01.2015, Đức Hồng Y Fernando Filoni, Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, đã chủ tế Thánh Lễ Kính Đức Mẹ tại Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang.

 

Đức Hồng Y Fernando Filoni gặp gỡ hàng Giáo sĩ, Chủng sinh, Tu sĩ và Giáo dân của Giáo tỉnh Huế tại La Vang

​Vào lúc 16g00 ngày 22.01.2015, đoàn xe chở ĐHY Fernando và phái đoàn đã đến La Vang bình an, sau đó di chuyển vào quảng trường Mân Côi trong sự chào đón của đông đảo giáo dân đứng hai bên, cùng lúc đó đội kèn Giáo phận Thái Bình trổi lên những khúc ca đón chào, làm cho những giây phút đầu tiên tại La Vang thêm phần long trọng.

 

Vua Salômôn và 1.000 bà vợ

Đăng lúc: Thứ ba - 23/10/2012 20:37 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
VUA SALÔMÔN VÀ 1.000 BÀ VỢ
(1 V 11, 1-3)

 
 
 
 
 
Nữ hoàng Shêba thăm viếng Salômôn
Tranh của Edward Poynter (1836-1919), Anh quốc



 
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính biên dịch


Salômôn là con trai của Vua Đavít và bà Bethsabê, kế vị vua cha cai trị Giêrusalem. Ông trị vì từ năm 962 đến năm 922 trước Công nguyên. Tên ông trong tiếng hébreu có nghĩa là “hòa bình”, “thịnh vượng”. Ông không phải là con trưởng của vua Đavít và lên ngôi nhờ dùng thủ đoạn (xem 1 V 1-2).

Sau khi loại bỏ các đối thủ, Salômôn lên ngôi cai trị và đem lại hòa bình cho đất nước. Israel có được nền hòa bình trong nước cũng như với các quốc gia láng giềng. Thương mại bùng nổ đem lại thịnh vượng cho quốc gia. Tiền bạc dư đầy nên chẳng mấy ngạc nhiên khi ông cho xây những công trình vĩ đại trong số đó có cung điện hoàng gia và Đền Thờ. Salômôn khai thác các mỏ đồng ở miền Nam. Đôi khi muốn sớm kết thúc các công trình, ông áp đặt lao công khổ dịch đối với các nô lệ của xứ Canaan và ngay cả với người dân Israel.

Salômôn tổ chức nền hành chính quốc gia dựa trên khuôn mẫu Ai Cập. Đất nước được phân chia 12 miền không xếp đặt theo 12 chi tộc cốt để làm suy yếu quyền lực của họ. Nhà vua đảm trách mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Salômôn có những mặt hạn chế: những cuộc hôn nhân với các công chúa ngoại quốc; chấp nhận thần thánh của họ; xây dựng những hậu cung xa hoa. Lơ là với việc thờ phụng Giavê, nền hành chánh quá tập quyền, điều đó đã phân chia đất nước ra làm hai và ly giáo là điều không tránh khỏi.

 Thời đại Salômôn được ghi dấu với nền văn chương đã khai sinh ra truyền thống  yahviste (trình thuật sáng tạo Ađam và Eva thuộc truyền thống này). Người ta cũng gán cho Salômôn là cha đẻ của phong trào khôn ngoan.  

Ông cưới quá nhiều vợ! Không kể các bà vợ người Do Thái, ông kết hôn với các phụ nữ ngoại quốc người Moabite, người Ammonite, người Édomite, Sidon, Hittite và cưới cả con gái của Pharaon.

Các bà này xuất xứ từ những quốc gia mà Thiên Chúa đã nói với con cái Israël: “Các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng”. Salômôn có đến 700 bà vợ chính thức và 300 thê thiếp (xem 1 V 11, 2-3).

Đa thê được chấp nhận trong thế giới Kinh Thánh. Tất cả các vua Israël đều có nhiều vợ nhưng nhiều như Salômôn thì vô địch. Cứ hãy tưởng tượng ông phải mất đến 3 năm mới giáp mặt lại bà đầu tiên, và đó mới chỉ là cách tính … lý tưởng!

Salômôn có thật sự cưới ngần ấy bà vợ không? Con số 1.000 có giá trị biểu trưng trong Kinh Thánh, đơn giản là nói đến một số lượng rất lớn. Con số này muốn gây ấn tượng bởi vì mục đích của tác giả chỉ để làm chúng ta thất kinh! Ở chương trước trong sách Các Vua, tác giả nói đến sự giàu có của vị đại vương này. Các bà vợ là một phần trong tài sản của ông. Và để chu cấp cho các bà này thì cần phải có rất nhiều tiền: họ đòi hỏi quần áo, trang sức và rất nhiều … sự chịu đựng!

Các bà đến từ các quốc gia khác, có thể hiểu đây là những cuộc hôn nhân «chính trị» với mục đích liên minh với thủ lĩnh các quốc gia láng giềng. Đó là phong tục cần phải theo để được sống yên ổn với lân bang chứ chẳng thể nào sống … yên ổn được với ngần ấy bà vợ!

Khi về già, các bà thường lèo lái tâm hồn Salômôn hướng về các thần thánh khác, xa lìa Thiên Chúa, trái hẳn với tinh thần của phụ vương Đavít. Salômôn đã thờ lạy thần Astarté, nữ thần của Sidon, và thần Milkôm của người Ammonite. Salômôn đã trở nên xấu xa trước mặt Thiên Chúa chứ không như Đavít, cha của ông. Chính Salômôn xây dựng trên núi đối diện với Giêrusalem một nơi thờ phượng thần Kemosh của người Moab, và thần Molek của người Ammon. Ông xây đền thờ thần cho hết các bà vợ ngoại quốc: các bà dâng hương và của lễ lên thần thánh của họ (1 V 11, 4-8).

Salômôn không chỉ xây đền thờ kính Thiên Chúa ở Giêrusalem và còn xây điện kính các thần thánh khác cho các bà vợ cũng như các thương gia ngoại quốc, để giao hảo với các lân bang. Điều này đã làm hoen ố sự tinh tuyền của đức tin vào một Thiên Chúa chân thật của Israël. Vậy thì vấn đề của Salômôn không phải là có quá nhiều vợ nhưng là các bà đã lèo lái ông xa lìa Thiên Chúa chân thật duy nhất.

Ta thấy ở đây có mối quan tâm của người soạn thảo Sách Thánh khi từ cuộc lưu đầy Babylone trở về. Khi người Do Thái trở về Giêrusalem và xây dựng Đền Thờ, họ quyết liệt xây dựng căn tính dân tộc dựa vào đức tin nơi Giavê, Đấng mà họ ký kết giao ước. Trình thuật các bà vợ của Salômôn được kể lại cốt để đả phá những cuộc hôn nhân hỗn hợp. Sau khi trở về từ cuộc lưu đày, hôn nhân với các bà vợ ngoại quốc được xem như là mối nguy cơ cho sự tinh tuyền của nòi giống và đức tin. Bản văn đã hai lần so sánh sự thua kém của Salômôn đối với Đavít, cha của ông: Đavít luôn trung thành với Thiên Chúa. Ta biết rằng Đavít không phải là một thiên thần. Tuy nhiên, dầu phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông vẫn không bao giờ xây đền cho các thần thánh nào khác. Chính vì thế, Đavít vẫn luôn là vị vua trung thành mẫu mực với Thiên Chúa và là mẫu gương cho các vua khác noi theo, thậm chí còn là tổ phụ của Chúa Giêsu.

 
(Theo Sébastien Doane, interbible)

 
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn tin: Gpquinhon.org
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc