Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu: Bài giảng thánh lễ trạm Năm Thánh 2025 tại Nhà thờ Quảng Ngãi

Thứ sáu - 27/06/2025 22:37
baigiangdc mattheo

LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
Lễ Trạm giáo hạt Quảng Ngãi, tại nhà thờ Quảng Ngãi ngày 27.6.2025
(Ed 34,11-16; Rm 5,5-11; Lc 15,3-7)

Kể từ ngày khai mạc Năm thánh 2025 trên qui mô giáo phận với nghi thức và thánh lễ trọng thể tại nhà thờ Chính tòa Qui Nhơn vào buổi chiều ngày 29 tháng 12 năm 2024 với khẩu hiệu “Những người hành hương của hy vọng”, cuộc hành hương của cộng đoàn Dân Chúa giáo phận Qui Nhơn đã trải qua hai trạm dừng chân, một tại nhà thờ Mằng Lăng ngày 03 tháng 3 và một  tại nhà thờ Tuy Hòa ngày 01 tháng 5. Hôm nay, trạm dừng chân thứ 3 được dành cho giáo hạt Quảng Ngãi.

Trong Tông sắc Spes Non Confundit (SNC) khai mở Năm thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh rằng đời sống Kitô hữu là một con đường cần những khoảnh khắc mạnh mẽ để nuôi dưỡng và củng cố niềm hy vọng như người bạn đồng hành không thể thay thế, cho ta thoáng thấy mục tiêu là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu” (SNC 5). Một trong những khoảnh khắc mạnh ấy chính là cuộc Lễ trạm mà hôm nay chúng ta đang tham dự. Trong khoảnh khắc này chúng ta hãy cùng nhau ôn lại đôi nét về lịch sử truyền giáo của giáo hạt Quảng Ngãi và cùng nhau suy niệm Lời Chúa được gửi đến cho chúng ta hôm nay.

Giáo hạt Quảng Ngãi là nơi đón nhận Tin mừng từ rất sớm. Ngay từ tiền bán thế kỷ XVII, vùng đất của giáo hạt Quảng Ngãi này đã in dấu chân các thừa sai dòng Tên. Từ trụ sở truyền giáo Nước Mặn ở phủ Qui Nhơn, năm 1625 các thừa sai đã thiết lập được những giáo điểm đầu tiên tại Quảng Ngãi như Chợ Mới, Vom. Vị thừa sai nổi tiếng là cha Alexandre de Rhodes đã từng rao giảng Tin mừng tại Chợ Mới, Bàu Gốc và Vom vào năm 1641. Tại Bình Sơn có ông Gioan Thanh Minh (1588-1663) là một thầy giảng và là một thi sĩ đã dùng tài năng văn chương của mình để góp phần vào việc truyền giáo và cuối cùng đã được diễm phúc tử đạo.

Năm 1659, Tòa Thánh đã thiết lập Địa phận Tông Tòa Đàng Trong dưới quyền cai quản của Đức cha Pierre Lambert de La Motte, nhưng lúc bấy giờ tại Đàng Trong đang có cơn bách hại nên Đức cha chưa thể đến Đàng Trong được. Trong cơn bách hại vào cuối năm 1664 sang đầu năm 1665, tại Quảng Ngãi có 4 vị anh hùng tử đạo nổi tiếng là các ông Tôma Tín, Tôma Nghệ, Đaminh và Bênêđictô. Ngoài ra, Quảng Ngãi là nơi xuất thân của vị linh mục đầu tiên của Địa phận Đàng Trong và của cả nước Việt Nam là cha Giuse Trang, quê ở An Chỉ, đã được Đức cha Lambert truyền chức linh mục tại Thái Lan năm 1668. Ngài được các thừa sai công nhận là một vị linh mục thánh thiện, thông thái và nhiệt thành.

Trong chuyến viếng thăm mục vụ lần thứ nhất tại Đàng Trong từ năm 1671 đến 1672, Đức cha Lambert đã ở tại Quảng Ngãi hơn 2 tháng. Lúc này Quảng Ngãi là vùng Công giáo đông đúc và sầm uất của Địa phận Đàng Trong. Ba nơi tập trung giáo dân đông nhất là An Chỉ, Bàu Tây và Châu Me. Tại An Chỉ, Đức cha đã thành lập Dòng Chị Em Mến Thánh Giá Đàng Trong vào năm 1671 là tiền thân của Hội dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn ngày nay. Trong chuyến viếng thăm mục vụ lần thứ hai tại Đàng Trong từ năm 1675 đến 1676, Đức cha cũng lưu lại tại Quảng Ngãi để gặp gỡ giáo dân và nhận lời khấn đầu tiên của các nữ tu Dòng Chị Em Mến Thánh Giá.

Từ đó giáo đoàn Quảng Ngãi không ngừng phát triển bất chấp mọi khó khăn bách hại. Tuy nhiên cuộc bách hại do phong trào Văn Thân năm 1885 đã khiến cho giáo đoàn Quảng Ngãi bị tàn phá thật nặng nề cả về nhân mạng lẫn tài sản và cơ sở vật chất, từ Văn Ban, Bàu Gốc, Châu Me, Trà Câu, Trung Tín, Trung Thành, Trung Hậu, Trung Chánh, Long Giang đến Phú Hòa, Chà Là, Chợ Mới, An Hội, Cù Và, Phường Chuối. Tổng kết trong toàn tỉnh Quảng Ngãi có 3 thừa sai hơn 40 nữ tu Mến Thánh Giá bị giết, số giáo dân từ 6.600 người chỉ còn lại khoảng 1000 người!

Sau khi cuộc bách hại chấm dứt, cộng đoàn dân Chúa tại Quảng Ngãi phát triển nhanh và nhiều giáo xứ mới đã được thành lập. Trước khi chiến tranh xảy ra vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, trong toàn tỉnh Quảng Ngãi có khoảng 30 ngàn giáo dân, được phân bố trong 11 giáo xứ: Trung Tín, Phú Hòa, Bình Đông, Tân Lộc, Cù Và, Quảng Ngãi, Châu Me, Kỳ Tân, Phú Vang, Bàu Gốc, Trà Câu, 1 giáo họ biệt lập là Thu Xà và một Trung tâm truyền giáo là Châu Ổ.

Trong thời gian chiến tranh, rất nhiều giáo dân đã vì sợ mà bỏ đạo và bỏ xứ ra đi. Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, có nhiều người tiếp tục bỏ đạo và vì thiếu linh mục nên trong toàn giáo hạt Quảng Ngãi chỉ còn lại 4 giáo xứ : Phú Hòa, Châu Ổ, Quảng Ngãi, Bàu Gốc. Cộng đoàn dân Chúa phải xây dựng lại từ đống hoang tàn đổ nát. Hiện nay mặc dù vẫn còn một số giáo xứ bị mai một chưa thể phục hồi, nhưng giáo hạt Quảng Ngãi có thêm một số giáo xứ mới, tổng cộng cả cũ và mới có 11 giáo xứ và 1 giáo họ biệt lập với số giáo dân là 11.465 người.

Hôm nay, tại trạm dừng chân Quảng Ngãi trên lộ trình hành hương Năm thánh của Giáo phận Qui Nhơn, chúng ta có dịp ôn lại lịch sử và thấy giáo hạt Quảng Ngãi là một địa bàn chứa đầy trầm tích lịch sử truyền giáo thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu đào của các bậc tiền nhân. Những dấu vết lịch sử ấy đang hiện diện tại các điểm hành hương rải rác khắp giáo hạt và đang mời gọi chúng ta đến kính viếng, vừa để củng cố niềm tin vào Thiên Chúa, bày tỏ tâm tình tri ân đối với các bậc tiền nhân, vừa để cầu nguyện cho giáo hạt và giáo phận.

Sau khi ôn lại đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của giáo hạt Quảng Ngãi, giờ đây chúng ta tập trung vào khung cảnh phụng vụ của ngày Lễ trạm hôm nay, để gặp gỡ Chúa. Khung cảnh phụng vụ của Lễ trạm hôm nay là ngày lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là điểm gặp gỡ và trung tâm điểm của các cuộc hành hương Năm thánh. Vì vậy, trong Tông sắc khai mở Năm thánh, Đức Thánh Cha đã viết: “Đối với mọi người, ước gì Năm Thánh là một thời điểm gặp gỡ Chúa Giêsu cách sống động và cá vị” (SNC 1).

Chúa Giêsu mà chúng ta gặp gỡ tại trạm dừng chân hôm nay là Chúa Giêsu với Trái tim rất thánh của Người. Điều này thật phù hợp với chủ đề của Năm thánh 2025 là Năm hy vọng. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác định: “Quả thế, niềm hy vọng phát sinh từ tình yêu và dựa trên tình yêu tuôn trào từ Trái tim Chúa Giêsu bị đâm thâu trên thập giá”. Sau đó ngài đã trích nguyên văn một đoạn trong bức thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Roma mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 2:  “Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hòa giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hòa giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.” (Rm 5,10) (SNC 3).

Tình yêu của Chúa Giêsu đối với cúng ta đã được báo trước qua đoạn sách ngôn sứ Êdêkiel mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 1. Đó là tình yêu của một vị Chủ chiên nhân lành đối với đoàn chiên: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ - sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng. Con nào bị mất Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc Ta sẽ đưa về; con nào bị thương Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật Ta sẽ cho mạnh; con nào béo mập, con nào khỏe mạnh Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng” (Ed 34,15-16).

Tình yêu của Trái tim Chúa Giêsu được bày tỏ cách rõ ràng nhất khi Người dong ruổi khắp mọi nẻo đường để tìm kiếm những con chiên lạc là những người tội lỗi. Người sẵn sàng ngồi đồng bàn với họ bất chấp những lời phê bình của những kẻ đạo đức giả là các kinh sư và biệt phái. Trong đoạn Tin mừng hôm nay, Người tự ví mình như một người mục tử có một trăm con chiên nhưng bị lạc mất một con, đành phải để lại 99 con chiên kia trên đồng cỏ để lên đường tìm kiếm con chiên lạc cho đến khi tìm được mới thôi. Nhưng điều tuyệt vời không thể tưởng tượng được là thay vì la rầy đánh đập con chiên lạc cho hả giận, thì Người lại vác chiên lên vai như một món quà quí báu. Về đến nhà Người còn mở tiệc ăn mừng như người vừa tìm lại được người thân yêu bị lạc mất. Lạ lùng nhất là câu tuyên bố của Người: “Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định: “Chúng ta cần một thứ hạnh phúc đạt được một lần và mãi mãi trong điều làm chúng ta tăng triển, nghĩa là trong tình yêu, để từ nay trở đi chúng ta có thể nói: Tôi được yêu, nên tôi hiện hữu; và tôi sẽ luôn hiện hữu trong Tình yêu không làm tôi thất vọng. Không có gì và cũng chẳng có ai có thể tách tôi ra khỏi Tình yêu ấy. Một lần nữa chúng ta hãy nhắc lại lời của thánh Tông đồ: “Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39) (SNC 21).

Chúa Giêsu yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vô cùng thân ái và hết sức ngọt ngào. Tình yêu của Người được biểu lộ một cách hết sức cảm động đối với những người đau khổ, nhất là những người tội lỗi. Đối với những người mà người ta không còn gì để hy vọng, thì Chúa lại chứng tỏ cho họ một tình yêu, một sự tin tưởng hết sức bất ngờ và hết sức mạnh mẽ, đến độ có thể hoàn toàn biến đổi họ. Chẳng hạn, trường hợp của ông trưởng thu thuế Giakê mà ai cũng ghét. Mọi người đều nghĩ rằng Giakê mãi mãi bị giam hãm trong đống của cải bất chính của ông. Nhưng thật là bất ngờ, trên con đường Giêricô, khi ông đang ngồi núp trong tán lá cây vả để nhìn xem Chúa Giêsu sắp đi qua, thì Chúa Giêsu đã nhìn thấy ông và và nói: “Này anh Giakê, hãy xuống mau vì hôm nay tôi muốn nghỉ lại tại nhà ông”. Một cái nhìn, một tiếng gọi thân tình đã khiến cho cuộc đời ông thay đổi 180 độ: từ một người tham lam keo kiệt, Giakê đã hoàn toàn trở nên một người hết sức quảng đại.

Không ai còn trông mong Giakê có thể làm được một việc gì tốt, và ai cũng chê ghét ông ta. Thế mà Chúa Giêsu đã yêu thương Giakê, đã tin tưởng vào ông. Thế là những mạch nước mà người ta nghĩ là đã khô cạn vĩnh viễn trong lòng ông, lại bắt đầu chảy tràn ngập nơi ông, nâng ông lên thật cao và đẩy ông đi thật xa, xa đến độ khiến ai nấy đều sửng sốt không thể tin vào mắt vào tai của mình khi ông đứng lên trước mặt Chúa Giêsu và nói: “Thưa Thầy, tôi xin phân phát một phần của cải của tôi cho kẻ khó, và nếu tôi đã làm thiệt hại cho ai điều gì, thì tôi xin đền gấp bốn”. Tất cả mọi người đều coi Giakê là thứ người đáng vất đi, nhưng Chúa Giêsu đã yêu thương và đặt tin tưởng nơi ông, một lần cho đến mãi mãi. Chúa Giêsu không phán xét và kết án ông Giakê như các luật sĩ và biệt phái, nhưng Người dùng tình yêu để hoán cải ông và biến ông trở thành một con người thánh thiện.

Vì vậy Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Sự phán xét của Thiên Chúa tình yêu (x. 1 Ga 4,8.16), chỉ có thể dựa trên tình yêu, đặc biệt dựa trên cách chúng ta đã hoặc không thực thi tình yêu đối với những người khốn khó nhất mà Chúa Kitô, chính là Đấng Thẩm phán, đang hiện diện nơi họ (x. Mt 25,31-46). Vì thế, đây là một sự phán xét khác với phán xét của con người và của các tòa án trần thế. Nó phải được hiểu như một mối tương quan giữa chân lý với Thiên Chúa-tình yêu và với chính mình trong mầu nhiệm khôn dò của lòng Chúa thương xót. Về vấn đề này Kinh Thánh khẳng định: “Làm như thế Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Người đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Người ban ơn sám hối. […] và chúng con phải trông cậy vào lòng thương xót của Người khi bị Người xét xử” (Kn 12,19.22). Như Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Vào lúc chung thẩm chúng ta cảm nghiệm và đón nhận sự thống trị này của tình yêu Chúa trên tất cả sự dữ trong thế giới và trong chúng ta. Đau khổ của tình yêu trở nên ơn cứu rỗi và niềm vui của chúng ta.” (SNC 22.)

Năm thánh là năm Toàn xá, là thời gian tuyệt vời nhất để mỗi người chúng ta cảm nghiệm được tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Được Thiên Chúa tha thứ, mỗi người chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau tận đáy lòng. Đó mới thật sự là một tình yêu chân chính. Nhưng làm sao có thể tha thứ tận đáy lòng khi chính lòng chúng ta bị tổn thương bởi những xúc phạm của anh chị em? Làm sao có thể xóa tan mọi vết thương lòng khi ký ức về sự bị xúc phạm vẫn còn đó khiến lòng chúng ta đau đớn?

Hãy nghe Đức Phanxicô giải thích: “Kinh nghiệm được tha thứ như vậy nhất thiết sẽ mở rộng tâm trí để sẵn sàng tha thứ. Tha thứ không thay đổi quá khứ, không sửa chữa được những gì đã xảy ra. Nhưng tha thứ cho phép chúng ta thay đổi tương lai và sống khác đi, không oán hận, không căm phẫn và không báo thù. Tương lai được tha thứ soi sáng sẽ cho phép chúng ta đọc quá khứ bằng đôi mắt khác, an nhiên hơn, ngay cả khi mắt vẫn còn đẫm lệ” (SNC 23).

Năm Toàn xá là năm yêu thương và tha thứ. Đây là điểm nhấn quan trọng trong hành trình dài của cuộc sống đòi hỏi một quyết tâm và một nỗ lực không ngừng, như có người đã chia sẻ: “Có một bài học tôi phải học suốt đời: đó là học yêu thương. Có một bài tập tôi phải tập suốt đời: đó là tập tha thứ”.


 

Tác giả: Gm. Matthêô Nguyễn Văn Khôi

 Tags: Giảng lễ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây