Tư duy Bình Định

Thứ năm - 26/09/2019 19:47
  
DSC 2288
 
TƯ DUY BÌNH ĐỊNH
                      Nguyễn Thanh Mừng

 

Lịch sử, ở góc độ sáng tạo của nó, có thể ví như một cái kén nhả ra những sợi tơ tằm nhẹ nhàng và trong suốt, trong ấy kết tinh bao nhiêu giai điệu bí ẩn của tâm hồn, tính cách đặc trưng cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi vùng đất, mỗi gia đình, mỗi đời người. Lịch sử Bình Định cũng không nằm ngoài những quy luật ấy, và vũ khúc tư duy dưới nền trời nắng mưa bão táp này đã khôn nguôi hiện đại trong cổ điển, sự bùng nổ âm thầm của cuộc cách tân trong các khuôn vàng thước ngọc, như một định mệnh của văn hóa. Ai đó đã ví von, về mặt địa lý, Bình Định là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt, có hải đảo, có đồng bằng, có trung du, có miền núi, có vùng cao. Nằm giữa ba con đèo, Bình Đê ở phía Bắc, Cù Mông ở phía Nam, An Khê ở phía Tây, Bình Định ôm ấp trong lòng ba con sông lớn là sông Côn, sông La Tinh và sông Lại Giang cùng bao nhiêu sông suối núi đồi, truông dài bãi rộng…

Tôi ở Bình Định, miền Trung nước Việt, xứ sở của những đám mây diệu vợi đọng bóng những cái tên như thành Phật Thệ hoặc Đồ Bàn của châu Vijaya xưa, thành Hoàng Đế của vương triều Tây Sơn với phong trào nông dân lẫy lừng trong lịch sử. Đây cũng là quê chồng của Huyền Trân công chúa (1306) và quê chồng của Ngọc Hân công chúa (1786) mà quà vu quy dành cho cả hai là số phận của những hoàng hậu khuynh thành. "Thi Nại thành trung túng bộ binh" chính là câu thơ của vị vua anh hùng và thi sĩ Lê Thánh Tông viết trong cuộc bình trị giang san, xác lập cương giới ở xứ sở này.

Có mối lương duyên nào đó khi Hồng Đức đặt chân về miền Đồ Bàn, Thi Nại và từ đó là những đoàn người thiên di, hòa đời sống mình vào luỹ xưa tháp cũ vùng đất biên viễn, phên giậu của đất nước Đại Việt ở phương Nam, vừa là nơi trấn nhậm, vừa là chốn lưu đày, vừa là cõi khai phóng. Cảm thức lịch sử khôn nguôi xao động khi tôi lang thang về nguồn, dọc dài lộ trình ấy là bóng dáng những Đào Duy Từ, Đào Tấn, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Yến Lan, Phạm Hổ... và tôi bắt gặp ở mức độ khác nhau trong tác phẩm của họ những bùng nổ và an nhiên, khuôn thước và cách tân, cổ xưa và tươi mới. Núi không phải là người nhưng người đã nhận từ đó một tầm nhìn, một ký thác. Sông không phải là người nhưng người đã nhận từ đó một hướng đi, một giãi bày. Biển không phải là người nhưng người đã nhận từ đó một đối diện, một gợi mở và cả một thách thức. Số phận Tổ quốc, số phận dân tộc, số phận con người và số phận văn chương không thể không hòa quyện với nhau trong những khúc quanh trường đoạn của lịch sử và văn hóa xứ sở này, ở đó máu mồ hôi và nước mắt thường ròng ròng trên gương mặt những câu thơ. Hòa quyện trong mênh mang ảo diệu, trong u hoài trầm thống, trong sâu xa thăm thẳm, trong hào sảng quang minh, trong ý nghĩa đắp bồi và xác quyết của nền văn chương mà dòng giống Hồng Lạc đã có, đang có và sẽ có. Ông vua đồng thời là Tao Đàn nguyên súy, nói nôm na là Chủ tịch Hội Nhà văn của non sông Đại Việt gấm vóc thế kỷ XV Lê Thánh Tông dường như có một vai trò trong cuộc tham dự thăng trầm ngần ấy thế kỷ, ở đó sao Khuê vẫn thường hằng một nguồn sáng thanh cao và tao nhã.

Ở Bình Định, đó là những đôi lòng tay trong muôn lòng tay cả nước nâng niu cuộc hành trình phong sương của tiếng Việt. Chữ Nôm mà Hàn Thuyên làm văn tế, Hồ Quý Ly dùng thực thi cải tổ, Nguyễn Trãi làm thơ, Lê Thánh Tông ngự chế Hồng Đức quốc âm thi tập... lại đâm chồi nảy lộc ở vương triều Tây Sơn, trong dào dạt thiên lương Quang Trung Nguyễn Huệ, thay chữ Hán, giữ địa vị chính thống trong văn bản nhà nước. Bên cạnh đó, công cuộc La tinh hóa tiếng Việt đã được sự tham dự của cảng thị Nước Mặn phủ Quy Nhơn thế kỷ XVII, một trong những nơi Alexandre de Rhodes nhờ vào ý thức cộng tác của các danh sĩ cũng như cư dân bản địa, hệ thống hóa công trình của các đồng sự, với ý nghĩa phôi thai và sinh nở trong Từ điển Việt Bồ La. Dấu vết này hãy còn lưu lại trên một địa danh độc đáo ở Bình Định, đó là dòng sông La Tinh lững lờ chảy qua huyện cũ Phù Ly. Nắng gió hào hoa và dầu dãi của Đàng Trong ngày ấy đã chứng kiến bản khế ước không lời, nhẫn nại và bền bỉ, trong cuộc tao phùng ngoạn mục giữa chữ Nôm và chữ La tinh, sự phát triển quốc âm quốc ngữ.

Ngày nay, người ta thường dùng các mỹ từ trìu mến gọi các địa phương trong nước, theo sự nổi tiếng của phong cảnh, danh nhân, nghề nghiệp, tóm lại là những đặc trưng lịch sử văn hóa của xứ sở đó. Bình Định cũng được ưu ái gọi bằng nhiều tên lúc gắn với biển cả hoặc núi non, lúc gắn với phong trào nông dân Tây Sơn, với phong trào thơ mới, với nghệ thuật hát bội… Nhưng tên gọi phổ biến mà nhiều người dễ nhận biết là miền đất võ. Đó là sự xác tín của bốn phương và niềm tự hào của người Bình Định, khái quát những thành tựu huy hoàng qua hơn năm trăm năm đấu tranh và xây dựng.

Miền đất võ định đô giữa một vùng sông núi hài hòa khiêm cung. Hơn năm trăm năm của bốn ngàn năm, tiếp quản hồng cầu Hồng Lạc, dòng máu miền đất võ ròng ròng là dòng máu Việt ở miền Trung Tổ quốc, tài trí, vun bồi, văn hoa và kiến tạo. Vẫn là truyền thống Việt đại nghĩa chí nhân, người Bình Định đã đóng góp một cách quyết liệt phong vận của vùng đất phiên trấn, phên giậu xưa, vùng đất từng là kinh đô năm thế kỷ của các triều đại Chămpa, lại là kinh đô của hoàng đế Nguyễn Nhạc thời Tây Sơn.

Về địa hình, vùng kinh thành xưa Bình Định tọa lạc giữa một vùng sông núi không hiểm trở chất ngất mà đượm vẻ ôn hòa nhu thuận, vừa hướng nội vừa hướng ngoại, những yếu tố không thể thiếu để hình thành vùng đất kinh đô. Quả vậy, việc phát triển của châu Vijaya xưa với các thành Đồ Bàn, thành Cha, thành Thị Nại có liên quan mật thiết đến thế núi hình sông của xứ sở này với tư cách trung tâm của những vương triều. Đến thế kỷ XVIII, việc hình thành thành Hoàng Đế cũng là một minh chứng đầy vẻ vang cho vượng khí sông núi nơi này. Hệ thống núi đồi, gò đống, sông ngòi, mương rạch ở đây qua lịch sử là một hệ thống vừa tự nhiên vừa nhân tạo, tức có sự chỉnh lý theo hướng phục vụ những nhu cầu về các mặt của đời sống kinh đô.

Sông chính ở vùng kinh thành xưa Bình Định là sông Côn, một dòng sông hùng tráng và trữ tình, nơi phát tích của nhiều anh hùng và thi nhân Bình Định. Vượt qua An Thái, sông Côn làm một cành nhiều nhánh, vươn ra những ngón tay dài bao bọc địa cuộc sơn kỳ thủy tú An Nhơn. Dòng phía Nam xưa gọi là Nam Phái xuống đến Phụng Ngọc lại rẽ đôi, một dòng chảy vào Phụng Ngọc ra đến cửa Tiền thành Bình Định rồi chảy về Đông, thường gọi là sông Cửa Tiền. Một dòng chảy thẳng xuống Tân An qua hết An Nhơn đến Tuy Phước, đổ ra Thị Nại, thường gọi là Trung Phái. Sông Cửa Tiền tiếp nhận thêm nguồn nước từ sông An Tượng phía Tây Nam đổ ra. Riêng ở đoạn dưới An Thái, có dòng chảy ra phía Bắc gọi là Bắc Phái. Đến Thị Lựa, dòng này phân hai một nhánh là Thạch Yển chạy vào đông nam rồi ra đông bắc, quành lên nhịp xuống dịu dàng qua núi Mò O. Một nhánh là La Vỹ chảy về phía Gò Găng rồi hợp cùng dòng Thạch Yển ở Lý Nhơn. Từ hợp lưu này, hai sông chia đôi rồi lại hợp nhau ở cửa vào Thị Nại. Tương truyền, nhánh sông La Vỹ xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XVIII, do vua Thái Đức đào từ phía tây thành Đồ Bàn làm thế phòng địch, đồng thời lấy đất tôn cao nền thành. Mùa lụt sông lở, vua cho đắp Đỉnh Nhĩ đê, do đó sông La Vỹ còn mang tên là sông Quai Vạc.

Vùng kinh thành xưa Bình Định nằm ở thế trung tâm, như một sự đón nhận giữa nguồn và bể, giữa cao vời và thẳm sâu, giữa vững bền và dâu bể, giữa sôi động và an nhiên, giữa biến dịch và tĩnh tại... Nếu xây dựng mô hình địa- văn hóa như GS Trần Quốc Vượng về sự tương ứng giữa tính chất của địa hình và chức năng các di tích, thì công thức: núi - châu thổ - ven biển - hải đảo là địa hình An Nhơn và các vùng phụ cận nam Bình Định, tương ứng với thánh địa - kinh thành - cảng thị, trong đó hai yếu tố đầu là của An Nhơn và yếu tố cuối thuộc về Thị Nại, Tuy Phước. Thành Cha, thành Đồ Bàn và thành Thị Nại ở châu Vijaya xưa là các chứng chỉ cho nhận định trên. Đó chính là sự thể hiện cái nhìn hướng biển của người Chăm. Chính vì vậy, ở thế kỷ VII-X, các thuyền buôn đường biển quốc tế từ Trung Hoa, Ả Rập, Ba Tư, Srivijaya đều có ghé đến Bình Định. Và thời Tây Sơn, Nguyễn Nhạc đã tiếp các doanh nhân phương Tây tại thành Hoàng Đế với yêu cầu giao thương, mở cửa.

Sứ mệnh lịch sử của sông nước vùng kinh thành Bình Định xưa gắn liền với quan niệm phong thủy trong văn hóa cổ đại. Nghĩa là cùng với núi non, đảm nhiệm vượng khí trong kiến trúc vương triều, thể hiện các chức năng của đời sống tâm linh lẫn đời sống xã hội. Riêng đối với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, ý nghĩa gắn bó của nó lại càng đậm đặc. Bến Trường Trầu là xuất phát điểm của ba anh em Tây Sơn. Thuở hàn vi, Nguyễn Nhạc buôn trầu, giao lưu lên nguồn xuống bể, từ các vùng dân tộc thiểu số đến các hạt trong phủ Quy Nhơn bằng thuyền. Nơi học tập văn võ của họ là mái trường thầy giáo Hiến ở An Thái, một bến nước cách bến Trường Trầu không xa. Con đường từ thượng đạo đến hạ đạo, từ bến Trường Trầu đến An Thái, từ An Thái đến kinh thành Hoàng Đế, hoàn toàn có thể thông thương bằng thuyền. Lịch sử đã chứng minh, bên cạnh đội quân bộ, đội quân thủy của họ hết sức hùng mạnh, đã làm nên những chiến tích vang dội khi giao tranh với quân Nguyễn ánh trên đầm Thị Nại và giao tranh với quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút.

Hệ thống sông nước vùng kinh thành xưa ở Bình Định, ngoài chức năng là huyết mạch chốn đế đô, còn là nơi xuất phát cả nhiều thành tựu văn hóa cổ truyền. Bên lưu vực của nó, có nhiều lễ hội gắn bó với sông nước: hội đổ giàn ở An Thái, hội Vía Bà ở Nhơn Phong (tương truyền Bà hóa tại bến sông có vực nước xoáy)... Các món ẩm thực độc đáo ở nơi này đều gắn với sông nước: bún Song Thằng, rượu Bàu Đá... Sự độc đáo của cả bún và rượu đều gắn kết với nguồn nước sở tại.

Và bên cạnh sông, núi tạo cho địa cuộc cái thế chở che, ôm ấp. Cái thế núi hình sông điệp trùng đã bao đời tạo nên khí chất của một vùng đất thiêng. Ở đó, người Bình Định bao đời đã tạo dựng cơ ngơi văn hóa bền vững cùng đất trời sông núi Bình Định, trong đất trời sông núi Việt Nam. Bên cạnh sông, núi ở vùng kinh thành xưa Bình Định tạo cho địa cuộc cái thế chở che, ôm ấp, quấn quýt mở lòng ngân mãi dư ba. Núi ở An Nhơn tiêu biểu như núi An Tượng phía nam với thế voi nằm; núi Kỳ Đồng phía tây bắc với hình tượng "Thanh Long ẩm thủy"; một ngọn độc sơn đã đi vào ca dao truyền thuyết địa phương là Núi Mò O ở phía đông bắc. Trước khi đến Mò O, có nhiều hòn núi thấp ở phía tây như hòn Đại An, hòn Tân Nghị, gò Thành Cũ, gò Vân Sơn, núi Long Cốt. Có người ví núi Trà Sơn ở phía Tây hợp với các hòn Đại An, Tân Nghi, Kỳ Đồng thành bộ tứ linh Long, Lân, Quy, Phụng. Lại có người cho rằng các dãy gò núi ở An Nhơn nối miên man theo hơi thở Trường Sơn như một chuỗi ngọc bích. Đó là những hòn núi đầy mầu sắc bể dâu, ôm gọn trong lòng những dấu tích bi tráng của lịch sử, ẩn tàng khí thiêng của sơn mạch. Nghìn năm trước, khi mảnh đất này giang tay đón những vận hội kinh kỳ, núi Mò O trở thành sự che chở kỳ vĩ, một vùng đất thiêng trong tâm thức hoàng triều và thần dân. Hơn hai thế kỷ trước, một lần nữa núi Mò O làm thiên chức cao quý của xứ sở đế vương, nơi đặt đô của một triều đại nông dân rực rỡ trong lịch sử dân tộc: triều Tây Sơn. Và bây giờ, núi đứng đó trong sắc trời kinh xưa, uy nghi trầm mặc, minh triết mà giản phác.

Ngồi trên núi Long Cốt, ngọn núi long mạch của kinh đô Đồ Bàn và kinh thành Hoàng Đế xưa, tôi rưng rưng xúc động lần tìm qua những rêu phong, những gạch đá, thư tịch cổ, đền tháp, miếu mạo, chùa chiền, thành quách... Đến nơi này, dù không phải dùng phương tiện internet hiện đại nhưng ít nhiều, dường như tôi vẫn "nối mạng" được cảm thức lịch sử văn hóa, giữa muôn trùng xưa sau. Có những đêm thanh vắng, trong tần số cảm ứng như thật như mơ, tôi được nghe trong ngân vang khôn cùng, một tiếng nói của người Việt buổi khai lập, giữa bão giông, giữa sấm sét, giữa mây khói và giữa hương hoa. Vẫn là người Việt muôn xưa, bí thức giống nòi đượm sâu trong huyết quản nhưng ít bị gò bó vào những tín niệm tưởng chừng như khuôn vàng thước ngọc quy định bởi địa vị xã hội cổ truyền bởi họ đang đặt cược số phận trước miệng hùm nanh sấu của đất mới phương Nam thời trung đại. Người Việt đó đi giữa lấm láp và sáng trong bùn đất với mây trời, trong triết lý dân gian cường tráng, trong cả thâm trầm Khổng Mạnh Lão Trang, trong từ bi Phật tổ: "Lễ vật lớn nhất của đời người là sự khoan dung". Khi thời gian lùi xa, ngẩng mặt ngắm vô biên, môi tôi hãy còn dư vị dịu ngọt, tinh tế, dào dạt, uẩn súc của văn chương, của thơ ca, như những sợi tơ tinh trong giăng khắp niềm an ủi vô biên của thân phận.

Địa cuộc miền Trung nói chung như chiếc đòn gánh gánh hai đầu đất nước. Đó là cách ví von để chỉ một dải đất hẹp, thung thổ khúc khuỷu gập ghềnh, khí hậu khắc nghiệt và con người dầu dãi, chịu đựng. Núi và biển miên man quấn quýt, sông suối đan dày như rẽ quạt, tạo cho miền Trung cái thế hiểm trở, hùng tráng và cũng rất trữ tình, thơ mộng. Bình Định vừa mang những yếu tố chung đó vừa có khí vị riêng. Ngay cả nắng mưa sương gió cũng khác thường, không ảo diệu cũng chẳng rạch ròi mà là thứ mưa nắng gió sương đi giữa hai bờ ban bố và trừng phạt, chào đón và thử thách, bạo liệt và khoan dung, chia lìa và tái hợp… Ghi lại một ít cảm giác mà bản thân đã trải nghiệm và sẻ chia, không phải để bóc tách, phân biệt, mà tôi chỉ muốn nhấn nhá cái khúc thức, khí vị miền Trung, khí vị Bình Định đã góp phần hình thành cá thể sáng tạo các nhà thơ có gốc tích nơi này. Và những khúc thức, khí vị riêng của các miền do địa cuộc thổ ngơi mang lại sẽ cùng nhau đem đến sự phong quang hoành bác cho dòng sông thơ Việt, nghìn năm và mãi mãi với muôn đời.Võ và văn, hai khái niệm tưởng chừng đối lập ấy lại có mối quan hệ chuyển lưu và thống nhất hết sức ngoạn mục ở xứ sở này. Một điều có thể nói, lịch sử võ thuật Bình Định song song với lịch sử Bình Định đã in đậm trong văn hóa dân gian miền đất võ, đến mức nói về Bình Định là cả nước nghĩ ngay đến hình tượng: "Ai về Bình Định mà coi/ Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền". Tưởng cũng nên không quên võ thuật xứ sở này được vận dụng khá nhuần nhuyễn cho một loại hình nghệ thuật đặc sắc của Bình Định là hát bội. Chính những gương mặt nhân vật được thể hiện trên sân khấu tuồng như Quan Công, Trương Phi, Hoàng Phi Hổ, Triệu Khánh Sanh, Tiết Cương… đã ít nhiều chuyển tải dòng máu của cốt cách, tâm hồn và võ thuật Bình Định.

Người Bình Định có một hội lễ gọi là lễ hội đổ giàn An Thái, thực chất là một festival tràn đầy tinh thần thượng võ.

Chế Lan Viên tâm sự: "Chả lẽ lại nói là những kiểu kiến trúc đặc biệt nhà lá mái cửa bàn khoa Bình Định hay cái vòng quay kiên trì triền miên của các xe nước ngoài Quảng Ngãi đã cho tôi sự chịu khó trong thơ? Nhưng quả là những đêm hát bội ở An Vinh, các cuộc đổ giàn ở An Thái làm cho tôi yêu chất hùng tráng - sau này ta gọi là sử thi hay là gì nhỉ?

Rồi đây các bạn cũng nên tổ chức lại trò đổ giàn, đó chả là Olympic của ta đấy sao? Một cái giàn cao hàng chục mét, có con heo quay trên ấy và dưới đất là hàng chục võ sĩ từ Quy Nhơn, Đập Đá lên, Bình Khê xuống, Hoài Ân, Hoài Nhơn vào, cùng với các võ sĩ An Thái, An Vinh tại chỗ đang chờ đợi. Khi con heo ném xuống là một cuộc "tỉ thí lôi đài" dữ dội để giành cho được con heo kia, dấu hiệu đoàn nào sẽ là vô địch năm này.

Chất hùng ca trong thơ làm sao không dính líu, cái dây hồng trong thơ làm sao không dính líu với các cuộc đổ giàn thượng võ này? Blake đã nói khá đúng: Văn hóa đi bằng lối thẳng, còn nghệ thuật thì đi các lối ngoằn ngoèo.

Trong Điêu tàn có yếu tố thần bí vì tuổi trẻ tôi tìm trong tiếng tụng kinh trước bàn thờ thờ Phật của cha tôi và trường tôi nằm trong tầm ngân vang của chuông nhà thờ đạo Kim Châu gần đấy"(1).

Cái lý và cái tình để đất này là nơi lập thân của Đào Duy Từ thế kỷ XVI, hay một nhà họ Nguyễn thôn Vân Sơn thế kỷ XIX có năm thi sĩ, một Đào Tấn ông quan nghệ sĩ - người đã viết những câu thơ mênh mông xa rộng, cánh bằng vạn dặm, hoặc là mối lương duyên của ông đồ Nghệ với cô hàng nước mắm Gò Bồi sinh ra Xuân Diệu "hoàng tử của thơ tình", hoặc một nhóm thơ hội ngộ bạn bè trở thành hiện tượng văn học Bàn thành tứ hữu với những tên tuổi vang dội trong nền thơ dân tộc đều có liên quan sâu xa đến truyền thống và sự va đập, hội ngộ giữa các nền văn hóa.

Bốn dòng sông thơ mãnh liệt đã phát nguyên từ những chân trời và có một cuộc hợp lưu đầy thi vị trong tình bằng hữu chan chứa khiến mọi người đồng cảm ví với tứ linh: Long (Hàn Mặc Tử), Lân (Yến Lan), Quy (Quách Tấn) và Phụng (Chế Lan Viên).

Mạch đập của vùng quê thượng võ có những lý lẽ riêng, bí ẩn và tự tin xác lập cho mình sự mặn mà bén duyên với thi sĩ, với thơ ca.

Nguồn mạch ấy, trong cơn oằn mình của lịch sử và văn hóa đã tạo nên các anh hùng và thi nhân, kết tụ của khí phách và kết tụ của sự mẫn cảm. Lấy ví dụ ở hai danh sĩ bản địa là Nguyễn Trọng Trì và Hồ Sĩ Tạo, chúng ta bắt gặp ở mức độ nào đó sự khúc xạ của thời thế đã tạo nên ánh hào quang trong nhân cách kẻ sĩ Bình Định, từ chốn công đường màn thêu trướng vóc sẵn sàng bước ra xả thân dưới cờ nghĩa. Nguồn mạch ấy, theo cách nói của Chế Lan Viên, "đã rời số phận một người để sống số phận một dân tộc. Thơ cũng chuyển địa bàn, đi từ một nhiệm vụ này đến một nhiệm vụ khác, gần kề lịch sử hơn, gần kề chính trị hơn".

Đối với người Bình Định, thơ vẫn là hành trang không thể thiếu trên gồng gánh lịch sử, ở đây vẫn trong cơ thể Việt với đặc thù của nơi hợp lưu giữa ngai vàng và bùn đất, vua quan và thảo dân, kinh kỳ và thôn dã, thần tiên và phàm trần, máu đào và nước lã. Những nhà thơ bản địa có thể hỏi những vầng mây truân chuyên và hào sảng, bóng dáng nào của một Huyền Trân công chúa chống đỡ miếu rường, làm dâu Đồ Bàn hơn 700 năm trước, một Lê Thánh Tông anh hùng và thi sĩ thanh gươm yên ngựa đến Vijaya, một Đào Duy Từ bút mực dãi dầu lập thân ở phủ Hoài Nhân... Thơ ca đến với xứ sở này bằng quy luật chung của thơ Việt nhưng bằng hình tích riêng của sông núi linh diệu này, đất trời hào hiệp này, có thể trào ra ở chiếc trâm thơm trên suối tóc mỹ nhân, ở lưỡi kiếm tang bồng đấng quân vương, ở dải áo gió bụi của một sĩ phu... Hình tích ấy, cuối thế kỷ XVIII đã kết tinh rực rỡ bằng phong trào nông dân áo vải cờ đào với Quang Trung- Nguyễn Huệ, trở thành biểu tượng của mùa xuân, của tuổi trẻ, của chiến thắng và của tình yêu! Người Bình Định vô cùng biết ơn quê hương được mệnh danh là miền đất võ, đã kết nối thành một trời văn, nói một cách tự hào là trong văn có võ trong võ có văn, như một định mệnh của lịch sử văn hóa! Định mệnh ấy được tạo ra bởi sự dung hợp giữa mạch đất với lòng trời, một cơ duyên của lịch sử, một biện chứng không ít bí ẩn, không ít huyền ảo. Những khởi thủy quấn quýt tơ hồng của định mệnh đã là cuộc thai nghén cho cả những hội tụ kết tinh giao lưu và lan tỏa các thế kỷ sau này, như họ Đào ở Vinh Thạnh hiển hoạn và thi cầm, như họ Nguyễn ở Vân Sơn một nhà năm thi sĩ, như Hồ Sĩ Tạo vứt bỏ mũ áo quan trường, đứng về phía dân dù phải đọa đày trong tù ngục, như Mai Xuân Thưởng những vần thơ khẳng khái của người anh hùng trước lúc đầu rơi... Và đặc biệt là sự bùng nổ của thời kỳ Thơ Mới, với một cổ điển điêu luyện Quách Tấn, một phiêu linh thượng thanh Hàn Mặc Tử, một trần thế nồng nàn Xuân Diệu, một mộng ảo khói sương Yến Lan, một u hoài bi thống Chế Lan Viên... Có thể dùng bóng me xanh, giếng nước trong ở khu vườn tuổi thơ Nguyễn Huệ để ví von rằng thơ ở xứ sở này vừa có ý nghĩa nguồn mạch, vừa có ý nghĩa cội cành. Bây giờ, một vần lục bát trong ngự bút Quang Trung, một nhẫn nại guồng xe nước của người nông phu trong thơ Đào Tấn, một hiên ngang trong thơ Mai Xuân Thưởng, một bến My Lăng của Yến Lan, một khe nước ngọc của Hàn Mặc Tử, một vị xoài thanh ca Xuân Diệu, một chiếc lá tình xưa Quách Tấn, một bóng dáng đền tháp Chế Lan Viên... đều có ý nghĩa bồi đắp và xác quyết, tựa hồ bóng cây, tựa hồ gàu nước, nói chung là hương sắc của quê nhà. Gia tài thơ ca của những thi nhân trên không chỉ là của riêng Bình Định nhưng sự thấm thía và tâm đắc của người Bình Định với nó, lại có khí vị riêng.

Thơ Bình Định đã hòa vào máu thịt người Bình Định, đã từng san sẻ từng cưu mang từng chung lưng đấu cật, không hổ danh với chốn đầu sóng ngọn gió. Khi bão táp, lúc yên hàn, khúc tao loạn, hồi thái bình, thơ mang vác trong lòng hình ảnh quê hương với uy linh truyền thống thượng võ, bất kể nơi tên bay đạn lạc, chốn mưa dập gió vùi hay khi biển lặng sóng yên, trời quang mây tạnh. Truyền thống lịch sử văn hóa miền đất võ Bình Định không xa lạ với truyền thống Việt đại nghĩa chí nhân, bên cạnh thanh gươm đại định là ngọn bút nhân nghĩa, với thượng sách mưu phạt tâm công, được lặng thầm phù trợ, chứng giám linh thiêng của trời đất tổ tông. Có lẽ không ai không hiểu thế võ cao nhất ở đời là thế võ không động tay chân, không màng khiên giáo. Ấy là nơi ông Tơ bà Nguyệt đã định ước cho cuộc viếng thăm đầy hồng phúc của Nàng Thơ nhân ái, quyết liệt trong bao dung, khuôn thước trong tự do, cổ xưa trong tươi mới, lịch lãm trong hồn nhiên, cương nghị trong phóng khoáng... nàng Thơ sải cánh trên nền trời đất võ, say đắm mà mẫn tiệp, cuồng nhiệt mà thung thăng, tỉ tê mà bao quát... Những điều ấy đã từng xác tín trong lịch sử để tạo tác nên hồn nên vóc, nên đất nên người. Nếu có những hàm chứa âm vang thuần phác và hiên ngang, trầm tư và hào sảng, dịu dàng và thấm đượm khi bốn phương trời nhắc đến miền đất võ, ấy là một hồng phúc to lớn mà bao đời người Bình Định đã tạo dựng được.

Trong tiếng gió mưa tràn qua dòng thời gian hưng vong bĩ thái, dường như không chỉ có những âm vang của chốn phàm trần.

                                              N.T.M

_______________

1. Chế Lan Viên, Thơ văn chọn lọc, Sở VHTT Nghĩa Bình xb, 1988.

 
   
 



 

Nguồn tin:

 Tags: văn hóa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check