Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874), người thôn Qui Thuận, Tổng An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Qui Thuận, Hoài Châu Bắc, Hoài Nhơn, Bình Định).[1] Qua nhiều tác phẩm và những bản điều trần, Linh mục đã kết hợp nhuần nhuyễn nhân, trí, dũng Á Đông với triết lý và thần học Kitô giáo để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào, cho đất nước. Khi được Vua Tự Đức cử làm tư vấn cho phái bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp về việc nghị hòa với Pháp (1862), Linh mục Đặng Đức Tuấn bày tỏ lập trường cương quyết giữ vững chủ quyền và sự nguyên vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Linh mục đã hoàn thành cuộc đời của một Linh mục, một kẻ sĩ, một kho tàng văn hóa, một tình thương dân tộc vào ngày 11.6.1874 (âm lịch), mộ tại thôn Chánh Khoan Tây, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên gần đây, một số tài liệu liên quan đến Linh mục được một số tác giả công bố gây nên sự hoài nghi về ngày qua đời của ngài. Bài viết này nhằm tổng hợp và xác định ngày qua đời của Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn đúng là ngày 11.6.1874 (âm lịch).
I. NHỮNG TÀI LIỆU GÂY HOÀI NGHI
1. Từ một tài liệu hán nôm
Từ bản tóm tắt của Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia giới thiệu một tài liệu Hán nôm thời Đồng Khánh có liên quan đến việc Linh mục Đặng Đức Tuấn xin khấu trừ tiền thuế cho giáo dân Quảng Ngãi, đến sự ngộ nhận Linh mục Đặng Đức Tuấn còn sống cho đến thời Đồng Khánh năm thứ 3 (1889). Để giải quyết vấn đề này, cần phải khảo sát toàn nội dung văn bản hán nôm.
- Bản tóm tắt giới thiệu:

- Văn bản hán nôm được lưu trữ tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I:

BẢN PHIÊN ÂM VÀ BẢN DỊCH
(Bản phiên âm và bản dịch do nhóm dịch thật A2Z):

1.1. Phiên âm chữ Hán
Đồng Khánh tam niên, Bát nguyệt, Thập thất nhật.
Hộ Bộ tấu.
Tư tiếp Quảng Ngãi tỉnh Thần, Lương Thành đẳng tư tự. Tiếp cơ mật viện thần phúc tự y tỉnh tư, tương Linh mục Đặng Đức Tuấn bẩm khất. Chiếu giáo dân tiền lật nguyên nạp tại tỉnh chi sổ. (Tiền tứ thiên, thất bách, nhị thập quan linh; lật nhị bách thất thập hộc linh). Khấu trừ bản niên thuế lệ, tồn can phát hoàn. Y tỉnh tra chi, giáo dân tiền lật tiết thứ trích cấp quân nhu hiện tồn vô kỷ’ kỳ dĩ nạp tiền lật chi số; ưng khấu trừ bản niên thuế lệ; lật ngũ bách tứ hộc linh, tiền nhị bách thập ngũ quan linh. Tồn can sĩ thương trữ, sảo dụ lánh hoàn. Kinh viện thần chiếu chi Giáo dân, điền thổ súc vật tạc dĩ cô giá phát mãi, tịnh hứa tá canh sĩ nghĩ. Tư y dân dĩ hồi phục, y Linh mục bẩm khất diệc hợp nghĩ do y tỉnh chiếu toán. Bản niên, giáo dân điền thổ chư thuế lệ khấu trừ, nhưng cứ tư tắc lật kiếm nhi tiền thặng. Ưng chiếu y giáo dân sở kiếm lật số, sức tương giá tiền chiếu khấu. Tồn thặng tiền can cấp hoàn y tỉnh, sức cứu y giáo dân súc vật phát mãi tịnh hứa tá điền thổ tiền tiết thứ dĩ nạp tại tỉnh huyện thương tiền tứ thiên thất bách nhị thập quan linh; Lật nhị bách thất thập hộc linh.
Hựu cứu chi, bản niên y giáo dân điền thuế lật ngũ bách tứ hộc linh tịnh bổ nạp thập ngũ linh, phụ nạp thập nhị học linh, cộng ưng trưng lật ngũ bách tam thập nhị hộc linh. Gián trừ hiện nạp: nhị bách thất thập hộc linh; tồn khiếm thuế lật nhị bách lục thập nhất hộc linh.
Tuân y dụ, chuẩn mỗi hộc trị tiền bát quan, thành tiền nhị thiên cửu thập nhị quan linh. Tịnh điền thuế tiền nhị bách, nhị thập ngũ quan linh; cộng nhịn thiên tam bách thập thất quan linh, tính dữ bản niên nhân đinh thuế tiền can, do các y giáo dân lục tục hồi phục, đắc can vị hữu xác định, lánh tư các y Linh mục kê bẩm khấu trừ. Tồn thặng tiền can hứa y lãnh hồi tán cấp. Tự cứ y các Linh mục đẳng đơn khất khấu trừ điền tô thuế tiền tịnh thuế lật, chiết nạp thành tiền cộng nhị thiên tam bách thập thất quan linh. Thượng thặng tiền nhị thiên tứ bách nhị quan linh, khất lãnh cấp y giáo dân chi độ. Tồn nhân đinh, thuế tiền hà hệ hiện tồn sinh giả. Thỉnh chiếu sổ nạp tại các xã thôn; Lý trưởng nhận lĩnh, chuyển nạp y tỉnh nghiệp. Thính y các Linh mục nhận lĩnh, giá thặng tiền nhị thiên tứ bách nhị thập quan linh. Sự hoàn tồn giá nhân đinh tiền lánh do các xã, thôn thu nạp. Tư chiếu sĩ sạo các đẳng.
Nhân thần bộ phụng chiếu giá hệ, cứ tình tùy nghi nghĩ biện. Thỉnh y triếp cảm thanh tự hậu chỉ lục tuân.
Tái thần Đào Tiến kinh phụng dự duyệt, tư hiện tuân vãng Quảng Nam hải phòng công cán. Trí vô thự danh cẩn phụng biện tự.
- Thần Lê Tri phụng thảo khảo
- Thần Lê Trinh
- Thần Nguyễn Văn Học phụ duyệt.
Nội các thần Lê Địch Cát ký
Phụng đối chiếu đương trực, thần Nguyễn Xuân Huyền ký.
Khoa đạo thần Lê Hy ký.
1.2. BẢN DỊCH
Ngày 17 tháng 8 năm Đồng Khánh thứ 3 (1889)
Hộ Bộ dâng tấu.
Nay [chúng thần] tiếp nhận công văn của các quan tỉnh Quảng Ngãi là bọn Lương Thành đưa Tư(1) lên, tường trình về việc [ngày trước] viện Cơ Mật đã có [công văn] phúc đáp lại tư của tỉnh đó trình lên [viện Cơ Mật], trong bản tư trình [của tỉnh Quảng Ngãi] đã bẩm bạch việc viên Linh mục Đặng Đức Tuấn bẩm xin đối chiếu việc tiền, thóc của các giáo dân. Nguyên giáo dân đã nộp lưu tại sổ sách của tỉnh số tiền 4720 quan và 270 hộc thóc. Khấu trừ đi số tô thuế [phải nộp] theo lệ định, còn bao nhiêu xin phát hoàn.
Tỉnh đó đã tra xét việc số tiền và thóc này giáo dân nộp các lần, đã trích cấp cho quân nhu, hiện còn bao nhiêu. Giáo dân đã nộp tiền và thóc, ưng cho khấu trừ thuế theo lệ định của năm nay là: Thóc là 504 hộc; Tiền 225 quan. Còn dư bao nhiêu hãy tạm tích chứa tại kho, đợi một thời gian ngắn sẽ để cho hoàn lại. Việc đã được Viện Cơ Mật thẩm chiếu, ruộng đất súc vật của giáo dân ngày trước đánh giá bao nhiêu đem phát mại và cho tạm canh tác, đợi nghĩ xét.
Nay dân nơi đó đã hồi phục, Linh mục ở xứ đó bẩm xin, [chúng thần] cùng xét nghĩ; do tỉnh đấy chiểu sổ sách tính toán các thuế điền thổ theo lệ định của giáo dân để khấu trừ, nhưng căn cứ vào tư trình lên thì thóc thu thiếu nhưng tiền thì quá số, đối chiếu lượng tô thóc giáo dân nạp bị thiếu, lệnh cho đem số tiền đó đối chiếu khấu trừ, còn thừa bao nhiêu tiền cho cấp trả. Quan tỉnh đó đã lệnh cho bên dưới tra xét giá trị súc vật phát mại và tiền mượn điền thổ; các lần đã nạp tại kho của tỉnh huyện là 4720 quan lẻ, thóc là 270 hộc lẻ, lại cứu xét trong năm nay giáo dân phải nộp thuế ruộng bằng thóc là 504 hộc lẻ; bổ nạp(2) 15 hộc lẻ; phụ nạp(3) 12 hộc lẻ. Tổng cộng tương ứng trưng thu là 532(4) hộc, trừ số thóc hiện đã nộp 270 hộc còn thiếu thuế thóc là 261 hộc. Tuân theo y dụ của Hoàng thượng, mỗi hộc thóc trị giá ước 08 quan tiền, quy thành tiền là 2092 quan, số thuế ruộng ra thành tiền là 225 quan tiền; cộng 2317 quan; tính cùng thuế nhân đinh(5) của năm nay là bao nhiêu (bởi vì các nơi đó giáo dân dần đã được hồi phục, được bao nhiêu suất chưa nắm được đích xác, ấn định sẽ lệnh cho các linh mục kê bẩm lên) đem khấu trừ; còn bao nhiêu dư cho lĩnh về phát cấp.
Lại tiếp, căn cứ vào các đơn của các Linh mục bẩm xin khấu trừ tiền tô thuế cùng thuế thóc chiết nạp quy thành tiền cộng là 2317 quan tiền, số tiền dư 2402 quan xin lĩnh cấp cho giáo dân chi tiêu. Còn thuế tiền nhân đinh hiện ai còn sống thỉnh xin chiếu sổ mà nạp thuế tại các xã thôn, Lý trưởng nhận lĩnh chuyển nạp cho quan tỉnh, đã nghe các Linh mục xứ đó nhận lĩnh tiền dư 2402 quan, việc đã xong. Còn riêng việc tiền thuế nhân đinh do các xã thôn thu nạp, lệnh cho đợi đối chiếu một thời gian. Nhân đó bọn thần phụng đối chiếu, theo tình tùy nghi xét trình bày. Thỉnh xin cứ theo vậy, giám xin trần tình đợi thánh chỉ sao lục để tuân theo thực hiện.
Lại việc nữa, viên Đào Tiến đã vâng phụng dự duyệt, nhưng hiện nay đang tuân mệnh đến Nha hải phòng tỉnh Quảng Nam để công cán. Cho nên không có tên chức, kính phụng và biện bẩm
- Thần là Lê Tri phụng thảo tẩu, khảo duyệt
- Thần Lê Trinh; Thần Nguyễn Văn Học phụng duyệt.
Nội các thần hôclà Lê Địch Cát ký
Phụng đối chiếu văn bản trực tiếp ; thần Nguyễn Xuân Huyền ký.
Khoa đạo thần là Lê Hy ký.
---------------------------------------
Ghi chú của nhóm dịch thuật:
1. Tư: Tên gọi loại giấy tờ trao đổi giữa các cơ quan công quyền thời phong kiến, giống như công văn ngày nay.
2. Bổ nạp: Ngoài số thuế ấn định phải nạp thì hàng năm có các nguồn chi bất chợt không nằm trong ngạch chính thuế phải thu thêm gọi là Bổ nạp.
3. Phụ nạp: Tương tự như loại thuế bổ nạp, còn loại phụ cũng không nằm trong chính ngạch thuế.
4. 532 hộc, có lẽ văn bản cộng nhầm, cộng đúng là 531 hộc.
5. Thuế nhân đinh: Tức thuế thân.
Nội dung văn bản cho thấy lý do Linh mục Đặng Đức Tuấn bẩm xin khấu trừ tiền tô thuế cho giáo dân Quảng Ngãi không phải vì giáo dân Quảng Ngãi có được đặc quyền gì, tất cả chỉ là công dân đều phải có bổn phận đối với quốc gia. Tuy nhiên, vì khi thực hiện Chiếu Phân Sáp một cách gắt gao (1861), người giáo dân (dân đạo) phải bị chia ghép đến ở vào xã thôn không có đạo. Thu thuế đinh dân đạo nặng gấp hai, để chi quân nhu…[2] Sau khi ký Hòa Ước Nhâm Tuất, …"nhân ngày mừng thánh thọ, vua Tự Đức ban ân xá cho dân đạo được tự do …cả người già trẻ em, đàn bà con gái không kể là đã hay chưa bỏ đạo và những trai tráng đã bỏ đạo, hết thảy đều tha về, ruộng vườn gia sản cấp trả lại và miễn cho ra lính, tạp dịch một năm".[3] Do đó, Linh mục Đặng Đức Tuấn mới có tờ trình bẩm xin về việc liên quan đến tô thuế mà giáo dân đã phải chịu theo lệnh triều đình trước Hòa Ước Nhâm Tuất. Tờ trình này của Linh mục Đặng Đức Tuấn phải được trình sau Hòa Ước và trước năm 1865.[4]
1.3. Luận về lý do sự ra đời văn bản của Bộ Hộ thời Đồng Khánh
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, ngày 13.7.1885, Cử nhân Lê Trung Đình và Tú tài Nguyễn Tự Tân đã lãnh đạo phong trào ở Quảng Ngãi, đánh chiếm tỉnh thành Quảng Ngãi. Ngày 17.7.1885, thừa lệnh vua Đồng Khánh, Nguyễn Thân,[5] Quyền Tiễu Phủ Sứ, đang trấn giữ Lũy Man ở phía Tây Quảng Ngãi, đem quân sơn phòng về đàn áp cuộc khởi nghĩa. Cử Đình và Tú Tân bị bắt và bị giết.
Phong trào Cần Vương Quảng Ngãi được tiếp tục hoạt động dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bá Loan cho đến giữa năm 1887. Phong trào hoạt động yếu dần vì sức mạnh quân lực của Nguyễn Thân. Nguyễn Bá Loan phải ẩn náu.
Giai đoạn sau của phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi được Nguyễn Bá Trác[6] viết trong Nam Phong Tạp chí: "Năm 1893 đề khởi lại, nhưng lần này mau dẹp yên. Kế đến năm sau 1894 là lúc sở thương chính Cổ Lũy mới lập, dân nổi lên đánh phá trong đêm mồng 7 rạng ngày mồng 8 tháng chạp; quan Thương chính Regnard chỉ có một cây gậy kháng cự không nổi. phải chạy trốn trên cửa gác. Dân phóng hỏa nên phải vọt xuống, bị dân giết. Sau tìm được tử thi, đem an táng tại nghĩa địa Quảng Ngãi ở núi Bút.
Cũng trong lúc này thành tỉnh bị hãm đánh, sau nhờ có thằng bồi báo ông chủ giây thép Jeandrat và quan Lãnh binh ra bắn. Dân phải giải tán chạy hết.
Xét ra là cử Vịnh làm đầu, do có tiếp giấy của Phan Đình Phùng bảo đề khởi, nã bắt rồi ít ngày xử tử.
Năm 1896 tên tuần Đức người làng Thi Phổ, Mộ Đức có vào đảng cách mệnh ở phia bắc Trung kỳ làm đầu đảng xui dân khởi loạn, may mà biết trước bắt được tên ấy nên khỏi khởi ra.
Từ ấy về sau dân gian an cư lạc nghiệp được 12 năm…"[7]
Căn cứ những điều Nguyễn Bá Trác viết về phong trào Cần Vương ở Quảng Ngãi trong thời gian vua Đồng Khánh tại vị (1885-1889), ta có thể luận rằng: Sở dĩ có bản tâu của Bộ Hộ ngày 17 tháng 8 năm Đồng Khánh thứ 3 (1889) về việc xử lý tô thuế với giáo dân ở Quảng Ngãi theo thỉnh nguyện của Linh mục Đặng Đức Tuấn vào những năm trước (sự kiện đã được giải quyết sau Hòa Ước Nhâm Tuất-1862) là để rà soát tình hình xã hội lúc bấy giờ hầu loại trừ những mầm mống mà phong trào Cần Vương có thể lợi dụng để câu kết giáo dân chống lại triều đình được Pháp bảo hộ.
Như vậy, nội dung bản tâu này không thể chứng minh: Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn sống cho đến thời Đồng Khánh (1899).
2. Bài báo của tác giả Nguyễn Đình đăng ở Trung hòa nhật báo:

Tác giả Nguyễn Đình viết: " Đặng Đức Tuấn là một vị Linh mục về địa phận Qui Nhơn…vào thủa Ất –dậu, ngài cũng có công trạng với nhà nước lắm". Năm Ất Dậu trong lịch sử là những năm … 1825, 1885…, Tháng 7 năm 1885 quân đội viễn chinh Pháp chiếm kinh thành Huế. Theo đó, Tôn Thất Thuyết, quan phụ chính đại thần, đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), ở đó hịch Cần Vương được ban hành (13.7.1885). Phong trào Cần Vương do các sĩ phu văn thân cực đoan lãnh đạo hưởng ứng hịch với chủ trương :"Bình Tây Sát Tả".
Nếu viết như Nguyễn Đình, Linh mục Đặng Đức Tuấn "có công trạng với nhà nước lắm", nhà nước nào đây ? Triều đình Hàm Nghi ? hay đô hộ Pháp ?. Hơn nữa Nguyễn Đình chỉ viết như vậy nhưng không có nguồn sử liệu chứng minh. Nếu Linh mục Đặng Đức Tuấn "có công trạng" với triều đình Hàm Nghi, vậy thì Linh mục Đặng Đức Tuấn ủng hộ việc phong trào Cần Vương "Bình Tây Sát Tả" nghĩa là ủng hộ việc phong trào giết giáo dân ? giết các Linh mục đồng môn của mình ? đốt phá các cơ sở công giáo ?.[8] Nếu Linh mục Đặng Đức Tuấn "có công trạng" với đô hộ Pháp thì Linh mục Đặng Đức Tuấn là một người phản quốc ?
Nguyễn Đình bị nhầm, không phải thủa Ất Dậu mà là năm Nhâm Tuất (1862). Lúc bấy giờ Linh mục Đặng Đức Tuấn được triều đình cử làm tư vấn cho phái đoàn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp (Hiệp) về việc nghị hòa với Pháp. Hòa ước được ký ngày 05.6.1862, được gọi là Hòa Ước Nhâm Tuất. Tuy nhiênLinh mục Đặng Đức Tuấn chỉ được làm tư vấn mà không được "trực tiếp tham gia bàn luận, nên không thể thỏa được chí nguyện của bản thân. Mặc dù Hòa Ước được ký kết, Linh mục Đặng Đức Tuấn vẫn dâng điều trần sự việc còn chưa thỏa đáng" .[9] Đây là một bằng chứng cho thấy Linh mục Đặng Đức Tuấn với tư cách là một công dân Việt, đã ra sức giúp triều đình Tự Đức giữ chủ quyền lãnh thổ.[10]
Như vậy, bài báo của Nguyễn Đình đăng ở Trung Hòa nhật báo số 523, ngày 27 tháng 10 năm 1927 không thể chứng minh: Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn còn sống cho đến năm 1885.
II. PHÂN BIỆT LINH MỤC ĐẶNG ĐỨC TUẤN - CHA KHÂM VỚI CHA KHÂM QUÊ CHỢ MỚI, QUẢNG NGÃI
Linh mục Gioakim Đặng Đức Tuấn được triều đình Tự Đức cử tham gia phái đoàn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp (Hiệp), nghị hòa với Pháp năm 1862, do đó Linh mục Đặng Đức Tuấn còn được gọi là Cha Khâm (khâm sai).
Lúc bấy giờ tại giáo phận Đông Đàng Trong có Cha Khâm, quê Chợ Mới, Thiên Lộc, Quảng Ngãi, được Đức cha Eugêniô Charbonnier Trí, Giám quản Tông tòa Đông Đàng Trong (1864-1878) truyền chức Linh mục. Năm 1885, Cha Khâm đang làm cha sở Trung Tín, Quảng Ngãi.[11] Trong lúc cha về Tòa Giám mục ở Làng Sông để tĩnh tâm,[12] phong trào Cần Vương ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên khởi nghĩa với khẩu hiệu "Bình Tây Sát Tả". Trước tình hình đó, Đức cha Van Camelbeke Hân lệnh cho các giáo xứ trong vùng Bình Định tập trung về bãi biển Qui Nhơn để lánh nạn. Do đó, cha Khâm không về được nhiệm sở Trung Tín của mình, cũng không ở Làng Sông, mà phải cùng với Đức cha, các cha và giáo dân tập trung về Qui Nhơn. Cha Khâm (Chợ Mới) là người đã chứng kiến cảnh tị nạn ở bờ biển Qui Nhơn.
Thi phẩm "Giáo Nạn Trong Quốc Biến" có đoạn tả về cảnh tị nạn ở Qui Nhơn:[13]
"…
Xuống đây số đạo cũng đông,
Đã không nhà cửa, lại không tiền tài.
Đức cha thấy việc còn dai,
thuê tàu chở đạo, Đồng Nai đem vào.
Chở ba bốn chuyến lao xao,
Hơn ba ngàn rưởi bạc trao hẳn hòi!
Đạo còn ở lại loi ngoi,
Giữa cát che trại, che chòi khổ thay.
Nhờ của bố thí hằng ngày,
Thảm sầu thân thể đổi thay ngậm ngùi ! …"
Theo tác giả sách "Đặng Đức Tuấn tinh hoa Công giáo ái quốc", thi phẩm này là lập trường của một giáo dân sống sót sau những ngày khói lửa. Theo cha Phaolô Ban[14] thì tác giả của thi phẩm là cha Khâm.[15] Cha Ban không xác định đó là cha Khâm quê Chợ Mới hay cha Khâm (Đặng Đức Tuấn).
Năm 1887, phong trào Cần Vương lắng dịu nhưng tình hình ở Quảng Ngãi chưa được ổn định, tinh thần chống Tây vẫn còn âm ỉ. Đức cha Van Camelkeke bổ nhiệm hai cha Việt Nam về Quảng Ngãi làm mục vụ. Phía Nam có cha Khâm (Chợ Mới, Quảng Ngãi) ở tại Bàu Gốc. Phía Bắc có cha Tađêô Lê Văn Triết ở tại Cù Và kiêm nhiệm Trung Tín. Vì cha Khâm (Chợ Mới) bị trùng tên với tên Khâm mà giáo dân thường gọi cha Gioakim Đặng Đức Tuấn (Gia Hựu), do đó cha Khâm (Chợ Mới – đang ở Bàu Gốc) đổi tên thành Tuệ nhưng giáo dân Bàu Gốc cứ gọi cha là cha Hai (theo tục lệ dân gian miền Trung, thường gọi theo thứ bậc trong gia đình, cha là con đầu của gia đình).[16]
Thời gian đầu, cha Hai tổ chức qui tập các tín hữu bị tử nạn trong phong trào Văn Thân, táng trong khuôn viên gọi là Lăng Tử đạo tại Bàu Gốc.[17] Cha Hai xây dựng lại nhà thờ Bàu Gốc. Sau mười năm miệt mài làm việc ở Bàu Gốc, cha ngã bệnh và qua đời tại Bàu Gốc vào năm 1898.[18] Giáo dân an táng cha trong lòng nhà thờ. Hiện nay mộ cha vẫn còn tại Bàu Gốc.
Cha Triết được bổ nhiệm phụ trách vùng Bắc Quảng Ngãi. Cha thường di chuyển làm việc giữa Trung Tín và Cù Và trong khoảng thời gian một năm. Sau đó cha được bổ nhiệm làm việc tại Quảng Nam. Cha qua đời tại Phú Thượng, Quảng Nam năm 1905.[19]
Sau thời gian hai cha Việt Nam làm việc tại Quảng Ngãi, hai cha đã thấy tình hình ổn định, năm 1888, Đức cha Van Camelbeke Hân bổ nhiệm hai thừa sai đến Quảng Ngãi:
Cha Antoine Sudre Thọ được bổ nhiệm đến Trung Sơn (Trung Tín) và cha Jean-François Gagnaire Định được bổ nhiệm đến Cù Và.[20]
Như vậy năm 1888, Quảng Ngãi được chia làm 03 địa sở do hai cha thừa sai và một cha Việt Nam phụ trách mục vụ cho 1.395 giáo dân.[21]
III. VỀ NGÀY QUA ĐỜI CỦA CHA GIOAKIM ĐẶNG ĐỨC TUẤN
Theo cha Giuse Võ Ngọc Nhã, cha Gioakim Đặng Đức Tuấn qua đời vào ngày 11.6.1874 (âm lịch).[22] Khi đi tìm sử liệu để viết lịch sử giáo phận, các giáo xứ và lý lịch trích ngang của các Cha đã làm việc trong địa phận Qui Nhơn, cha Giuse Võ Ngọc Nhã cho biết: cha được sinh ra tại Nước Nhỉ vào năm 1916, lớn lên tại Nước Nhỉ. Ông nội của cha là ông Câu Hòa. Ông ngoại của cha là ông Trùm Thống. Hằng năm, địa sở Nước Nhỉ đều tổ chức lễ giỗ cha Gioakim Đặng Đức Tuấn vào ngày 11.6 (âm lịch – Giáp Tuất). Cha Nhã cho biết ngày lễ giỗ cha Tuấn là một kỷ niệm khó quên trong kí ức tuổi thơ của cha. Về ngày tháng năm qua đời, hình thức mộ phần của cha Tuấn ở nhà thờ cũ,[23] được cải táng đến Lăng Tử đạo Nước Nhỉ mà cha viết trong "Đặng Đức Tuấn tinh hoa Công giáo ái quốc" được ông nội, ông ngoại và cha mẹ kể cho nghe trong những dịp lễ giỗ, trong những bữa cơm gia đình, trong những đêm trăng ngồi quây quần giữa sân lặt đậu phộng, ăn củ lang, hột mít luộc...[24]
IV. THEO SỬ LIỆU VỀ CÁC LINH MỤC TRONG ĐỊA PHẬN ĐÔNG ĐÀNG TRONG
Địa phận Đông Đàng Trong là tiền thân của địa phận Qui Nhơn. Ngày 03.12.1924, địa phận Đông Đàng Trong được gọi là địa phận Qui Nhơn.
1- Danh sách các Cha được Đức cha Cuênot truyền chức từ năm 1850 cho đến cuối đời của ngài (1861) có 23 Cha. Trong đó có cha Khâm (Đặng Đức Tuấn), quê Gia Hựu, qua đời tại Nước Nhỉ, mục năm qua đời chỉ có dấu hỏi (?) như 09 Cha khác, thậm chí có Cha được đánh dấu hỏi (?) ở mục quê quán.[25] Danh sách này được ghi lại vào năm 1910, do đó một số chi tiết về các Cha đã qua đời trước đó không có tài liệu để lại nên không có cơ sở chắc chắn để viết vào danh sách. Sau năm 1975, một số các cha qua đời trong giáo phận cũng không được ghi lại ngày tháng. Thậm chí có Cha qua đời năm 1984 nhưng ngày tháng cũng không được ghi lại, do đó phải rà soát, lấy thông tin từ các cháu của các ngài mới biết được.
Sau khi cha Gioakim Đặng Đức Tuấn qua đời (1874), không có Cha nào ở tại Nước Nhỉ. Năm 1877, Tiểu Chủng viện Nước Nhỉ được thành lập[26] để huấn luyện các lớp đã mãn Chủng viện Làng Sông.[27] Khi chủng viện được thành lập, các cha ở chủng viện vừa dạy học vừa chia nhau làm việc mục vụ tại Nước Nhỉ.
Tháng 03.1882, Đức cha Luy Galibert bổ nhiệm cha Théodule Joseph Hamon (cố Lựu) đến ở tại Truông Dốc với nhiệm vụ như một cha sở (comme curé). Từ thời điểm nầy, Nước Nhỉ thuộc quyền của cha sở Truông Dốc, tuy nhiên việc mục vụ tại Nước Nhỉ vẫn được giao cho các Cha ở chủng viện đảm trách.
Sau đây là danh sách các Cha ở chủng viện phụ trách mục vụ tại Nước Nhỉ:
- Cha August Macé Sĩ (1877-1885)
- Cha Louis Marie Galibert Lợi (1877-1879)
- Cha Constant Foumond Thủ (1879 -1884)
- Cha Etienne Vivier Huệ (1881-1883)
Lúc bấy giờ, việc gởi các Đại Chủng sinh của Giáo phận đi học ở Pi-năng được tạm hoãn. Năm 1881, Đại Chủng Viện Nước Nhỉ được thành lập. Cha Etienne Vivier làm Giám đốc tiên khởi Đại Chủng Viện Nước Nhỉ, và các cha giáo Đại Chủng viện: Joseph Lacasagne Xuân,[28] Pierre Dourisboure Ân, August Macé Sĩ. Tiểu Chủng Viện Nước Nhỉ vẫn sinh hoạt bình thường, do cha Constant Fourmond Thủ làm Giám Đốc.[29]
Thời gian các Cha làm việc tại Chủng viện Nước Nhỉ chia nhau làm mục vụ tại Nước Nhỉ đan xen, khó phân định rõ ràng.
2- Danh sách các Cha được Đức cha Charbonnier Trí truyền chức (từ 1864 đến 1878) có 11 Cha. Trong đó có Cha Tuệ (Khâm) quê Chợ Mới, qua đời tại Bàu Gốc năm 1898.[30]
V. TẠM KẾT
- Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn, quê Gia Hựu, còn gọi là Cha Khâm, tên gọi này được gọi sau năm 1862. Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn qua đời ngày 11.6.1874 âm lịch (23.7.1874 dương lịch) tại Nước Nhỉ. An táng tại nhà thờ cũ Nước Nhỉ, sau được cải táng. Mộ phần cải táng hiện táng tại Lăng Tử đạo ở Nước Nhỉ, thôn Chánh Khoan Tây, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Cha Khâm, quê Chợ Mới, nay là giáo họ Thiên Lộc, giáo xứ Phú Hòa. Về hành chánh thuộc thôn Lâm Lộc Nam, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Cha Khâm đổi tên là Tuệ. Cha được giáo dân Bàu Gốc gọi là cha Hai. Cha qua đời năm 1898 tại Bàu Gốc. Mộ phần hiện vẫn còn tại nhà Thờ Bàu Gốc, thôn Phước Vĩnh, xã Đức Phú, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.


[1] Bài viết dùng những địa danh trong lịch sử trước ngày 01.7.2025
[2] QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam Thực Lục chính biên, Viện Sử Học phiên dịch, nxb. Giáo Dục, tập 7, trang 705.
[3] QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam Thực Lục chính biên, Sđd, tập 7, trang 777.
[4] Sau Hòa Ước Nhâm Tuất (1862), cha Gioakim Đặng Đức Tuấn về lại Quảng Ngãi, làm việc mục vụ tại Quảng Ngãi cho đến năm 1865. Năm 1865, Đức cha Eugène Charbonnier bổ nhiệm cha Tuấn làm cha sở Nước Nhỉ. Cha Tuấn làm việc ở Nước Nhỉ cho đến khi qua đời (1874). Trong khi cha làm cha sở Nước Nhỉ, Triều đình Tự Đức còn mời cha về kinh thành Huế hai lần để tham hỏi ý kiến về quốc sự.
[5] Nguyễn Thân (1854–1914) quê ở làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ ông là Nguyễn Tấn được Tự Đức ban chức Tiểu phủ sứ, chức quan đầu tiền được Tự Đức thiết lập, giữ gìn, vỗ an cư dân vùng Đá Vách, Quảng Ngãi. Năm 1871, Nguyễn Tấn qua đời. Sau, Cư dân Đá Vách nỗi dậy, Nguyễn Thân nhờ tiếng thơm của cha nên dẹp yên loạn. Tháng 4 Giáp thân-1884, ông được kế nghiệp cha làm Quyền Tiễu phủ sứ.
[6] Nguyễn Bá Trác (1881 – 1945), làm chủ bút phần Hán văn của Nam Phong tạp chí Năm 1917. Năm 1919, sau khi rời Nam Phong tạp chí, ông vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ: Tuần vũ Quảng Ngãi, Thị lang Bộ Binh, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định.
[7] NGUYỄN BÁ TRÁC, Quảng Ngãi Tỉnh Chí, đăng trong Nam Phong tạp chí số 188, trang 374-375.
[8] Theo báo cáo năm 1885, số nhân sự và cơ sở vật chất của giáo phận Đông Đàng Trong (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận) bị thiệt hại về nhân sự: 8 thừa sai Pháp, 7 cha Việt, 60 thầy giảng, 270 nữ tu, trên 24.000 giáo dân đã bị sát hại hoặc bị chết vì đói khát, bệnh tật, khi lẩn trốn nơi rừng thiêng nước độc, cũng có người lập nghiệp nơi khác không trở về. Về cơ sở vật chất: Tòa Giám mục Làng Sông, 225 nhà thờ và nhà nguyện, 10 phước viện, 2 chủng viện (Làng Sông và Nước Nhỉ), 17 cô nhi viện, 2 phòng phát thuốc, 1 nhà in (Làng Sông), 4 nông trại, bị phá hủy. (xem AMEP, Rapport annuel de Cochinchine Orientale 1885).
[9] Xem Chỉ dụ ngày 10.6.1862, năm Tự Đức thứ 15, nhằm an lòng dân sau khi Hòa Ước được ký. – Châu bản Triều Nguyễn – Tự Đức – Trung tâm lưu trữ quốc gia I – MS. 316.089.
[10] Sau Hòa Ước Nhâm Tuất (1862), cha Đặng Đức Tuấn về lại Quảng Ngãi, làm việc mục vụ tại Quảng Ngãi cho đến năm 1865, Đức cha Eugène Charbonnier bổ nhiệm cha làm cha sở Nước Nhỉ. Cha làm việc ở Nước Nhỉ cho đến khi qua đời. Trong khi cha làm cha sở Nước Nhỉ, Triều đình Tự Đức còn mời cha về kinh thành Huế hai lần để tham hỏi ý kiến về quốc sự.
[11] Xem Mgr. Van Camelbecke, Rapport annuel des évêques 1885, VIETNAM, Cochinchine orientale.
[12] Xem Compte-Rendu et Etat de La Mission de Quinhon, Imp. Quinhon, 1940, trang 7. Tòa Giám mục lúc bấy giờ đặt ở Làng Sông.
[13] GIÁO SƯ LAM GIANG & LINH MỤC VÕ NGỌC NHÃ, Đặng Đức Tuấn tinh hoa Công giáo ái quốc, tác giả tự xuất bản, 1970, trang 533-534.
[14] Cha sinh năm 1884 tại giáo họ Suối Nổ, thôn Mỹ Hội, xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ. Được truyền chức Linh mục năm 1911, thuộc giáo phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn). Năm 1914 cha làm việc ở Phú Thọ (Pleiku). Năm 1932, giáo phận Kontum được thành lập (tách từ giáo phận Qui Nhơn). Từ 1932, cha thuộc Linh mục đoàn Kontum. Cha qua đời năm 1945 tại Phú Thọ.
[15] Xem Tạp chí "Lời Thăm" Địa phận Qui Nhơn, 15-22 Avril 1943.
[16] MISSION DE QUINHON, Mémorial No.61 ngày 31.01.1910, tr.13.
Việc cha Khâm (chợ Mới) đã đổi tên là Tuệ vì có sự trùng lặp với tên gọi của vị "tiền nhân có tiếng", sau này trong địa phận có Thầy Cao, quê Sông Cát, khi thụ phong Linh mục, Thầy xin đổi tên là Luận, vì trùng tên với cha Phêrô Nguyễn Hữu Cao quê Mỹ Trang, Phù Mỹ. (Mémorial Mission de Quinhon, No.24, Juin 1923, trang 172). Việc không dùng tên trùng với người trên trước cũng như không gọi tên người trên trước mà chỉ gọi theo thứ tự người con trong gia đình là nét văn hóa tinh thần trọng trưởng trong xã hội lúc bấy giờ.
[17] Trong chiến tranh, Lăng nầy bị bình địa, năm 1991 Lăng được tái thiết với diện tích 25 m2 .
[18] MISSION DE QUINHON, Mémorial No. 59 ngày 30.11.1909, tr. 13.
[19] TRẦN VĂN QUYẾN, Hai tấm bia ở nhà thờ Phú Thượng huyện Hòa Vang tp. Đà Nẵng, Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.802-805.
[20] GERARD MOUSSAY et BRIGITTE APPAVOU, Répertoire Des Membres De La Société Des Missions Étrangères 1659-2004, Archives des Mission Étrangère, Paris 2004, [1773] Antoine SUDRE – [1681] Jean-François GAGNAIRE
[21] AMEP, Rapport annuel de Cochinchine Orientale 1888.
[22] GIÁO SƯ LAM GIANG & LINH MỤC VÕ NGỌC NHÃ, Đặng Đức Tuấn tinh hoa Công giáo ái quốc, tác giả tự xuất bản, 1970, trang 16.
[23]Năm 1905, cha Jean Marie Guéno – Cố Nghiêm, cha sở Nước Nhỉ (1895-1909) chuyển dời nhà thờ cũ, thiết dựng nhà thờ mới trên nền đất cao tại vị trí hiện nay là trường tiểu học số 1 Mỹ Lợi, thôn Phú Ninh Tây, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ. Lúc bấy giờ, mái ngói Nhà thờ nầy được chống đỡ bằng 16 cột gỗ với 08 vì kèo xiên trính bắt giây. Trần nhà thờ được làm bằng ván mít, một loại cây ăn trái được trồng rất nhiều trên vùng đất nầy.
[24] Vùng đất thuộc giáo xứ Nước Nhỉ nhiều đồi núi khô cằn, ít ruộng lúa tốt nhưng nhiều thổ sản như khoai lang, khoai mì, đậu phộng và rất nhiều chủng loại cây ăn trái như mít, dừa…
[25] MISSION DE QUINHON, Mémorial NO. 62, 19 Mars 1910, trang 12-13.
[26] Chủng viện Nước Nhỉ được thành lập ngay trên bờ đầm Trà Ô, thuộc thôn Chánh Khoan, xã Mỹ Lợi. Ngày nay người địa phương gọi nơi đây là Vườn Trường. Khu vườn nầy đã được phân lô cho cư dân làm nhà ở.
[27] Chủng Viện Làng Sông huấn luyện các chú nhỏ.
[28] Cha giáo Đại Chủng Viện Nước Nhỉ (1881-1885 ). Lúc Văn Thân tàn phá Nước Nhỉ, Cha Joseph Lacasagne đang ở Qui Nhơn. Cha Pierre Dourisboure dưỡng bệnh ở Hồng Kông.
[29] Mgr. Van Camelbeke. Rapport de 1884.
[30] MISSION DE QUINHON, Mémorial NO. 62, 19 Mars 1910, trang 12-13.
Tác giả: Lm. Gioan Võ Đình Đệ
Nguồn: https://tusachnuocman.com/ve-ngay-qua-doi-cua-linh-muc-gioakim-dang-duc-tuan/
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Cáo phó: Nữ tu Anna Colombe Nguyễn Thị Kim Sang, thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn vừa mới qua đời
Chút cảm nhận về vị nữ tu già Mến Thánh Giá – Sr. Colombe vừa tạ thế: Một cánh bồ câu vừa chạm đất
Đóng góp của Giáo phận Đàng Trong/ Đông Đàng Trong/ Qui Nhơn trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ
Suy niệm Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa năm 2026: Để thê giới chạm bàn tay của Chúa
C-Mate: Nền tảng công nghệ truyền thông công giáo tại Việt Nam
Bảy cách phân định ơn gọi của bạn
Suy niệm Lời Chúa - Chúa nhật II Thường niên A: Hãy sống như Chúa Giêsu