GIÁO PHẬN QUI NHƠN

Những di sản ngoài vùng xếp hạng

với những nhà thờ được xác định thật sự có giá lịch sử-văn hóa thì chính quyền địa phương nên cấp một khu đất để xây mới khi có nhu cầu mở rộng phục vụ giáo xứ, trong khi vẫn bảo tồn công trình cũ như một địa điểm bảo tàng, tham quan.” Còn trong trường hợp việc dỡ bỏ để xây mới là bất khả kháng, theo ông Huy, nhất thiết phải tư liệu hóa di tích

 

Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ họp Hội nghị thường niên tại Nha Trang

Như đã ấn định tại Đại hội lần thứ XIII, Hội nghị thường niên kỳ I/2017 của Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ được tổ chức tại Toà Giám mục Nha Trang từ ngày 24 đến 28 tháng Tư 2017

 

Con đường dẫn tới màu xanh

Và như thế, trong Hội Thánh hôm nay, trong giáo phận hôm nay, vẫn còn những con đường dẫn đến màu xanh hy vọng, như con đường dẫn về giáo họ Nghĩa Điền, dẫn về vùng thung lũng với bạt ngàn rừng keo xanh rợp.

 

Niềm vui phục sinh đến với các em giáo xứ Ghềnh Ráng

Chúa Nhật ngày 16/04/2017 là ngày đại lễ mừng Chúa Sống Lại. Được sự khích lệ của Cha sở Phêrô, Giáo lý viên Giáo xứ Ghềnh Ráng cùng với quí Sơ MTG Qui Nhơn đang giúp xứ đã tổ chức một buổi sinh hoạt cho các em học viên giáo lý từ lớp đồng cỏ non đến lớp vào đời.

 

Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Con đường của lòng tin là con đường của lòng mến. “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa.

 

Giải Viết Văn Đường Trường 2017 - Bản tin 09

Đến 00g00, thời khắc đầu ngày Chúa nhật Phục Sinh 16-4-2017, cuộc thi Giải Viết Văn Đường Trường lần V nhận được bài dự thi cuối cùng, được gửi đi vào lúc 23g53. Khóa sổ, tổng cộng có 175 bài dự thi, vượt hẳn số lượng các năm trước (năm 2015 và 2016 đều chỉ có 143 bài). Phân tích sơ khởi cho thấy lượng bài này là của 95 tác giả, đến từ 20 giáo phận. Đây là niềm vui khởi đầu cho cuộc thi năm nay, và cũng thật trùng hợp, nó được hòa vào niềm vui mừng Chúa Phục Sinh trong ánh sáng khải hoàn đầy hy vọng.

 

Tuần Thánh tại giáo xứ Đa Lộc

Cùng với giáo hội khắp hoàn cầu 5 giờ 30 sáng ngày 9/4/2017, tại nhà thờ Đa Lộc, cha Gioan Baotixita Võ Tá Chân, quản xứ Đa Lộc đã cử hành nghi thức kiệu lá, khai mạc Tuần Thánh tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.

 

Các nhà thờ trong Giáo phận Qui Nhơn

Giáo phận Qui nhơn có tất cả 7 Giáo hạt: Quảng Ngãi, Bồng Sơn, Kim Châu, Gò Thị, Qui Nhơn, Mằng Lăng, Tuy Hòa. 60 nhà thờ giáo xứ, giáo họ biệt lập (Lm. Giuse Võ Tuấn tổng hợp)

 

Những cuộc hẹn làm nên lịch sử

Hy vọng cứ mỗi mùa Phục Sinh, nhiều người Kitô hữu sẽ có được những cuộc hẹn thân tình với Đức Kitô để từ đó, thế giới sẽ lui dần bóng tối, niềm tin yêu sẽ thắp sáng lên trên mọi nẻo đường, như ánh lửa nến Phục Sinh bừng lên trong đêm Vọng Phục Sinh sẽ còn cháy mãi ! (Lm. Giuse Trương Đình Hiền)

 

Đêm Vọng Phục Sinh tại Giáo xứ Chính Tòa

Vào lúc 19 giờ 30, ngày 15.05.2017, Đức Giám Mục Matthêô đã chủ sự Đêm Canh Thức Vọng Phục Sinh tại đài Thánh Giuse Giáo xứ Chính Tòa, có đông bà con giáo dân tham dự.

 

Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thánh lễ Tiệc ly của Chúa

Chúa Giêsu đã ăn bữa tối cùng với các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly và, Phúc Âm nói, Người biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian này mà về với Chúa Cha. Người biết rằng Người sẽ bị phản bội và sẽ bị Giuđa giao nộp vào ngay đêm ấy. “Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình, những kẻ còn ở trong thế gian, và Người yêu họ đến cùng”.

 

Đêm vọng Phục sinh tại giáo xứ Tuy Hòa - 2017

Khi màn đêm buông xuống cũng là thời điểm thích hợp để cộng đoàn giáo xứ Tuy Hòa cử hành Canh Thức Vượt Qua kính nhớ việc Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết và đem đến sự sống vinh quang. Và đêm nay cũng gọi là đêm Vọng Phục sinh, đêm chờ Chúa sống lại.

 

Maria Mađalêna, bà là ai?

Điều Tân Ước nói về bà thật ít oi và gây thất vọng, đơn giản chỉ gọi bà là Maria Mađalêna hay Maria thành Magđala, nhưng có một chi tiết nhỏ thật có ý nghĩa và thách đố. Cả bốn Tin Mừng đều khẳng định bà là môn đệ gương mẫu cho mọi thời đại.

 

Thứ Sáu Tuần Thánh tại giáo xứ Tuy Hòa

Để đáp trả tình yêu của Chúa, đêm nay cộng đoàn giáo xứ cùng đồng hành với Chúa, muốn được ở lại với Chúa, muốn được quì bên Chúa, để cùng sống với Chúa những giây phút cuói cùng trong vườn cây Dầu qua việc kiệu Mình Thánh Chúa vào nhà Tạm.

 

Tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu tại nhà thờ Chính Tòa

Hôm nay Thứ 6 Tuần Thánh, Đức Cha Matthêô chủ sự nghi thức Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó Chúa Giêsu.

 

Ta mong mãi buổi hừng đông hôm ấy

Đấng chiến thắng bóng đêm, Và đánh bại tử thần vừa chỗi dậy ! Vâng, chỉ có Ngài… Nên ta mong mãi buổi hừng đông hôm ấy ! (Sơn Ca Linh )

 

Công chính hóa là gì?

Đăng lúc: Thứ hai - 10/04/2017 03:24 - Người đăng bài viết: BTTVHQN

Vào 31 Tháng Mười 1999, một bản tuyên cáo chung được ký kết giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Luther về sự công chính hóa. Công chính hóa là gì? Nó có tầm quan trọng gì đối với đức tin Kitô giáo hay không?

Chắc chị còn nhớ, một cuộc ly khai trầm trọng trong Hội thánh đã diễn ra hồi thế kỷ XVI do phong trào Cải cách mà ông Lutêrô đề xướng. Khi nói đến những nguyên nhân của phong trào Cải cách, người ta thường chỉ để ý đến các vấn đề liên quan đến kỷ luật, phong hóa hay là quyền bính trong Giáo hội, chứ ít ai nghiên cứu đến những vấn đề liên quan đến đạo lý đức tin. Thế nhưng, trên thực tế, ông Lutêrô không chỉ yêu cầu chấn chỉnh nếp sống kỷ luật và phụng tự, song ông đã đòi xét lại chính nền tảng đức tin Kitô giáo.

Thế nào nền tảng của đức tin Kitô giáo? Có phải ở chỗ tin rằng đức Giêsu là Con Thiên Chúa hay không?

Không phải ở điểm đó. Ông Lutêrô chấp nhận những tín điều căn bản của đức tin Kitô giáo đã được các giáo phụ xác định, tiêu biểu nơi các tín biểu của công đồng Constantinopolis và Calxêđônia, về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, về mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Tất cả những mầu nhiệm này liên quan đến kế hoạch cứu độ nhân loại do Thiên Chúa ấn định, và được thực hiện nơi Đức Kitô, đặc biệt qua cuộc tử nạn và phục sinh. Vấn nạn của ông Lutêrô nêu lên liên quan tới cách thức lãnh nhận ơn cứu độ đó: làm thế nào để con người, (như chị và tôi), tiếp nhận được ơn cứu độ của Đức Kitô mang lại? Đó là căn gốc của vấn đề công chính hóa.

Ơn cứu độ có liên hệ gì đến công chính hóa đâu?

Có chứ. Để hiểu điều này, cần phải trở về với khái niệm về công chính. Từ “công chính” được dịch bởi từ “iustitia” trong tiếng La-tinh. Tuy nhiên, cần biết rằng từ “iustitia” cũng như các từ tương đương trong các ngôn ngữ Tây phương, có thể dịch là công chính, công bằng, công lý, tùy theo mạch văn. Khi bàn đến các mối tương quan trong xã hội, nó được dịch là “công bằng”, theo nghĩa là “của ai thì trả cho người đó”; đối lại là “bất công”. Để khiếu nại về tình trạng bất công và thiết lập công bằng, người ta nại đến “công lý”. Những ý nghĩa vừa nói chỉ giới hạn trong các mối liên hệ giữa con người với nhau mà thôi. Còn trong Kinh thánh, thì từ “iustitia” còn mang thêm một chiều kích khác nữa, đó là mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa. Dĩ nhiên, ta có thể hình dung rằng Thiên Chúa công bằng vô cùng, không thiên tư ai hết; Ngài không bị đam mê dục vọng làm mù quáng khi xét xử. Chúng ta tạm gọi là Ngài công minh.

Đồng thời Ngài cũng rất nghiêm thẳng, thẳng tay trừng phạt hết mọi tội lỗi, không làm ngơ một lỗi nào, phải không?

Theo lý luận tự nhiên thì quả đúng như vậy. Thế nhưng Đức Kitô đã mặc khải cho ta chân dung của Thiên Chúa Cha giàu lòng lân tuất. Thiên Chúa không xét nét các chi tiết vụn vặt của con người yếu đuối, nhưng Ngài đã lấy tình thương để tha thứ. Dù sao, trước khi đi sâu vào vấn đề này, chúng ta cần phải trở lại với khái niệm công chính đã. Như vừa nói, trong mối tương quan xã hội, một người được coi là “công bằng” hay “bất công” tùy theo họ có tuân giữ công lý hay không. Còn trong tương quan với Thiên Chúa, thì con người có thể gọi là công chính khi sống theo luật của Ngài. Đối lại là tình trạng “bất chính”, chứ không phải là “bất công”. Xét về từ ngữ, sự phân biệt giữa công bằng và công chính (hoặc bất công và bất chính) chỉ có trong tiếng Việt, chứ trong các tiếng Tây phương thì chỉ có một từ như nhau: justus và injustus. Như vậy, khi nói đến vấn đề “công chính hóa” thì chúng ta đang ở trong bối cảnh của mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa.

Tại sao vấn đề được đặt lên?

Nên biết vấn đề không phải là do ông Lutêrô gợi lên, nhưng là nằm trong thư của thánh Phaolô gửi các tín hữu Rôma, bao gồm suốt 11 chương đầu, với luận đề được tóm lại ở chương 3 từ câu 21 đến 30. Do tội lỗi, con người đã mất sự công chính trước mặt Chúa. Thế nhưng, làm mất sự công chính thì dễ chứ lấy lại sự công chính thì khó. Con người tội lỗi không thể nào tự mình trở lại tình trạng công chính nữa. Con người chỉ có thể được nên công chính nhờ ân sủng của Chúa. Ân sủng này được ban nơi Đức Giêsu Kitô. Nơi thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ cho chúng ta. Đức Kitô hiến mình làm của lễ đền tội cho chúng ta. Nhờ vậy mà chúng ta được trở nên công chính.

Nói thế có nghĩa là nhờ Đức Kitô, tất cả mọi tội lỗi của chúng ta đã được tha thứ rồi; chúng ta không cần phải ăn năn thống hối nữa, phải không?

Đến đây chúng ta đi vào điểm gay cấn của vấn đề. Chúng ta tuyên xưng rằng Đức Kitô đã đền tội thay cho nhân loại rồi. Thế thì con người có cần phải làm việc đền tội nữa hay không? Chắc hẳn là con người phải làm cái gì đó. Chúng ta tạm lấy ví dụ để giải thích. Sau một thời kỳ đại hạn, chúng ta mong cho trời mưa xuống. Chúng ta không thể làm mưa được. Thế nhưng đến khi trời đổ mưa, thì điều kiện tối thiểu là chúng ta phải đem thúng đem chậu ra mà hứng, chứ nếu ta đào hầm trú ẩn bưng bít hết mọi ngóc ngách, thì làm sao mà hứng được nước mưa. Một cách tương tự như vậy, Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ cho chúng ta, nhưng chúng ta phải đón tiếp hồng ân đó thì chúng ta mới được cứu độ. Sự đón tiếp đó được gọi là tin. Điều này không những được thánh Phaolô nói tới ở thư gửi Rôma, mà cả thánh Gioan cũng nhấn mạnh, khi thánh sử ví Đức Kitô là ánh sáng được ban cho trần gian, nhưng có nhiều người ngại ra ánh sáng; họ thích đi trong tăm tối.

Tin gì?

Đây là điểm đã gây chia rẽ giữa Công giáo và Tin lành trong quá khứ. Như vừa nói, thánh Phaolô cũng như thánh Gioan nhấn mạnh rằng “tin” như thái độ căn bản của con người để lãnh nhận ơn cứu rỗi. Thái độ này còn kéo dài ra suốt cuộc đời, đến nỗi có thể định nghĩa con người như là “tín hữu, tín đồ”. Thế nhưng, phải hiểu tin như thế nào? Có người hiểu “tin” như là hành vi của lý trí chấp nhận một chân lý, có người hiểu “tin” như là một tâm tình tín thác. Đi thêm một bước nữa, cuộc đời của người tín hữu không chỉ dừng lại ở khía cạnh lý trí hay tâm tình, mà còn phải diễn ra hành động, tức là những việc bác ái yêu thương. Trong Tân ước, chúng ta đã nhận thấy có nhiều quan điểm khác nhau về việc tin, cũng như những lối diễn đạt khác nhau về mối tương quan giữa “tin” với “hành”. Chẳng hạn khi đọc thư của ông Giacôbê 2,14-26, ta có cảm tưởng là ông này hoàn toàn đi ngược lại với Phaolô. Cần phải kiên nhẫn đọc các bản văn trong bối cảnh của chúng thì mới thấy rằng chúng bổ túc cho nhau; hay nói đúng hơn, chúng ta thấy việc “tin” bao hàm nhiều góc cạnh khác nhau.

Có phải nhờ sự nghiên cứu Kinh thánh tường tận hơn mà Công giáo và Tin Lành đã vượt qua những hiểu lầm trong quá khứ không?

Phải. Một dấu hiệu cho thấy là tại Âu châu, đã có bản dịch Kinh thánh đại kết, nghĩa là do các ủy ban gồm cả Công giáo lẫn Tin Lành. Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng không phải tất cả mọi dị biệt đã được xóa bỏ. Ngoài mối liên hệ giữa đức tin và việc làm, còn một mối khó khăn khác nữa khi bàn về hậu quả của ơn cứu độ trong đời sống. Chúng ta biết rằng nhờ đức tin và phép rửa, chúng ta được lãnh ơn cứu độ của Đức Kitô. Chúng ta đã chết cho con người cũ, và đã mặc Đức Kitô, sống cuộc đời mới trong Thần khí. Đồng thời, chúng ta vẫn còn cảm thấy hoành hành trong chúng ta những đam mê của tội lỗi. Tại sao vậy: các đam mê ấy đã chết chưa? Chúng ta đã bị hủy diệt chưa? Có gì thay đổi lúc chúng ta lãnh bí tích rửa tội hay không? Phía Tin lành cho rằng về phía chúng ta chẳng có gì thay đổi cả; chỉ thay đổi về phía Thiên Chúa thôi, nghĩa là Ngài không còn chấp nhất nữa. Phía công giáo thì nói rằng có sự thay đổi thực sự nơi chúng ta. Tội lỗi đã được tha thứ. Các đam mê không nhất thiết là tội lỗi: chúng có thể trở nên tốt hay xấu là tùy trách nhiệm tự do của chúng ta.

Nếu vẫn còn những quan điểm khác nhau như vậy, thì sao dám nói là Công giáo và Tin lành đã đạt được sự thỏa thuận về sự công chính hóa?

Nên biết là bản tuyên ngôn được ký kết giữa Giáo hội Công giáo với Giáo hội Lutêrô, hay nói cho đúng hơn với Liên đoàn Lutêrô thế giới, một cơ quan được thành lập từ năm 1947, hiện nay bao gồm 57,6 triệu trong số 61 triệu tín đồ Lutêrô trên thế giới. Như vậy, Liên đoàn này không thay mặt cho toàn thể các Giáo hội Lutêrô, lại càng không đại diện cho tất cả các Giáo hội Tin lành phát sinh từ phong trào Cải cách hồi thế kỷ XVI. Bản tuyên ngôn gồm 3 phần. Phần thứ nhất trình bày những dữ kiện của Tân ước về sự công chính hóa. Phần thứ hai ôn lại những lối giải thích khác nhau giữa Công giáo và Tin lành vào thế kỷ XVI. Phần thứ ba xác định những gì mà ngày nay hai bên đã đạt được sự thỏa thuận (đặc biệt ở số 15). Sau cùng trong phần thứ bốn, văn kiện bàn đến 7 điểm mà đôi bên còn có những cách giải thích khác nhau. Dĩ nhiên có người nhấn mạnh tới phần thứ bốn, vạch ra những điểm khác biệt; có người thì chú trọng đến phần thứ ba, ở những điểm đồng nhất. Tuy nhiên, phần thứ hai không kém quan trọng, bởi vì cho thấy có những hiểu lầm trong quá khứ mà ngày nay đã vượt qua được. Một cách cụ thể là hai bên Công giáo và Lutêrô đã rút lại những án tuyệt thông cho nhau cách đây 4 thế kỷ, vì lúc đấy không hiểu rõ quan điểm của bên kia. Đây là một bước tiến không nhỏ trên bước đường tiến về hợp nhất.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.


Chú thích:

- Công đồng Trentô đã lên án lập trường của Lutêrô trong sắc lệnh về sự công chính hóa ngày 13/1/1547.

- Những cuộc đối thoại thần học giữa Công giáo và Lutêrô đã bắt đầu từ năm 1967, nghĩa là liền sau khi bế mạc công đồng Vaticanô II. Ủy ban thần học song phương đã đạt đến vài tuyên ngôn chung liên quan đến Lời Chúa (Phúc âm, Tin lành, năm 1972), Thánh thể (1978), tác vụ (1981). Bản dự thảo tuyên ngôn về sự công chính hóa đã hoàn tất từ năm 1997, và được trao các cấp lãnh đạo duyệt xét. Về phía công giáo, Bộ Giáo lý đức tin và Hội đồng đặc trách hợp nhất các Kitô hữu đã nêu ra vài dè dặt trong thông cáo ngày 25/6/1998. Các nhận xét của cả hai phía được đúc kết đặt trong phần phụ lục của Tuyên ngôn.

- Bản văn của Tuyên ngôn được đăng ở L’Osservatore Romano, số 47 (24 Nov.1999).
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Tìm kiếm chọn lọc