Làng phong Qui Hòa năm 1936
NGƯỜI PHONG Ở ANNAM
Công trình của Cha Maheu ở Qui Hòa
Bài diễn thuyết của Bác sĩ Lemoine tại rạp Eden
Ngày 5 tháng 3 năm 1930
(L’Écho Annamite, 6 Mars 1930)
Thật khó, nếu không muốn nói là không thể nào kiểm kê được chính xác số người phong cùi ở Việt Nam, vì chỉ có Chính quyền bản xứ thực hiện. Các con số thống kê hầu như gồm những người nghèo khổ thuộc trách nhiệm các viên chức ở xã, những người có lợi khi tránh được phiền toái. Do đó, tất cả người ăn xin, người tàn tật và người nghèo bị lở loét đều được cho là người phong cùi. Tất cả những người phong trong gia đình nào có điều kiện tài chính cho phép họ đóng góp chút đỉnh cho cơ quan thống kê địa phương đều được miễn tuyên bố là người phong.
Cuộc điều tra số bệnh nhân phong gần đây nhất tại tỉnh Bình Định, được thực hiện vào năm 1928, đã ghi nhận 360 bệnh nhân. Tôi cho rằng để gần đúng với thực tế, cần phải xử lý con số này như sau: Trừ đi một phần ba số người mắc bệnh lở loét, giang mai và các loại bệnh tật khác: còn lại 240.
Nhân với hệ số 5, thường được chấp nhận trong các cuộc điều tra dân số chung. Kết quả sẽ là: 1.200 bệnh nhân phong.
Giả sử có 1.200 người phong cùi trên tổng dân số 700.000 người (theo Điều tra dân số năm 1926). Với tổng dân số bản địa Việt Nam khoảng 6 triệu người, chúng ta sẽ có khoảng 12.000 người phong cùi ở đất nước này. Theo cách thu thập, con số này có vẻ gần như xấp xỉ, nhưng tôi không thấy nó phóng đại cho lắm.
Hầu hết những người phong cùi Việt Nam đều là những người khốn khổ, bị làng xã ruồng bỏ, và để tránh đi phiền phức, đã đẩy họ ra ăn xin dọc đường, gần bến phà và chợ búa.
Ngày xưa, luật Việt Nam không cho phép cư dân đi ăn xin bên ngoài làng quê của mình. Sự lẫn lộn giữa luật Việt Nam và luật của Pháp đã dẫn đến tình trạng ăn xin tràn lan. Khi của bố thí không đủ nuôi sống, những kẻ khốn khổ đói khát này tràn vào các cửa hàng và chợ, vơ vét bằng đôi tay tàn tật và tham lam những thực phẩm mà họ thèm muốn, và như thế buộc phải bỏ đi cho họ vì họ đã làm chúng ra nhớp nhúa. Những người khác thì chuyên đi đòi nợ. Các chủ nợ hết kiên nhẫn đã thuê một số người phong hủi ghê tởm nhất và giao cho họ nhiệm vụ bao vây nhà con nợ ngoan cố. Đây là một phương pháp gần như không hề thất bại. Để thoát khỏi nhưng ông thừa phát lại đáng ghét này, con nợ phải vội vã trả nợ, vì không còn cách nào khác để thoát khỏi; người phong hủi lợi dụng hoàn cảnh khốn khổ của mình để sỉ nhục cả những vị đại quan.
Cảm hứng từ những ý tưởng về lòng thương xót và sự đoàn kết nhân loại mà chúng tôi ấp ủ hơn sáu năm trước, Khu Nông nghiệp "Làng Phong Cùi". Một nỗ lực đầu tiên đã được thực hiện ở Lào, nhưng chúng tôi không có đủ thời gian để hiện thực hóa dự án này.
Sau đây là những nguyên tắc mà chúng tôi đã trình bày trước Ủy ban Vệ sinh (Commission d'Hygiène) Tỉnh Bình Định vào ngày 22 tháng 11 năm 1927.
1. Cần đưa những người phong hủi dễ lây nhiễm ra khỏi đời sống xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho họ có một cuộc sống vật chất và tinh thần phù hợp với lý tưởng nhân đạo của chúng ta và đảm bảo họ được điều trị y tế lâu dài.
2. Công việc này phải nằm ngoài, hay nói đúng hơn là song song với hoạt động hành chính, vì những lý do sau: Ngân sách đã quá tải, và nếu không có nguồn lực mới, không thể đảm bảo sự phát triển thỏa đáng của công tác xã hội trong một hoạt động như thế này, nơi người ta không chỉ phải đảm bảo vấn đề vệ sinh và đời sống vật chất cho những bệnh nhân như thế này mà còn phải chăm sóc tinh thần, an ủi và đem lại niềm hy vọng. Công tác hành chính chưa đủ mạnh, bởi vì nó có thể có sự thông minh, nhất quán, tổ chức và có thẩm quyền, nhưng lại thiếu tình cảm và trái tim.
3- Trong một xã hội, người giàu phải giúp đỡ người nghèo: Do đó, hoặc thông qua phần trích từ tài sản công hoặc thông qua việc đóng góp tự nguyện, sẽ có đủ số tiền cần thiết.
4. Một địa điểm rộng lớn sẽ được chọn, vừa xa trung tâm vừa dễ dàng tiếp cận bác sĩ, có khí hậu trong lành, cho phép thiết lập các cánh đồng lúa và trồng trọt rau màu, đồn điền cây sinh lợi (dừa, cau, xoài, chè, cà phê, cao su, v.v.), cung cấp nước uống được, củi và có thể đánh bắt cá được.
Nhà cửa sẽ được xây dựng, ruộng lúa sẽ được phân phối, và các công cụ và vật nuôi cần thiết sẽ được mua.
Nhiều người phong có thể làm việc được. Những người không thể làm việc do bị cụt tay chân sẽ sống nhờ vào chi phí của cộng đồng.
Cư dân của làng này sẽ tự quản lý; thông qua một Hội đồng Quản trị, họ sẽ được miễn thuế và lao dịch.
Một bệnh xá sẽ được thành lập tại làng này, nơi những người phong sẽ được điều trị thường xuyên.
Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài mỗi cạnh 600 mét, nằm ở trung tâm vịnh Qui Hòa, đã được mua lại từ cư dân bản địa, với sự giúp đỡ của chính quyền tỉnh.
Chúng tôi muốn sở hữu toàn bộ thung lũng, nhưng do thiếu kinh phí cần thiết nên không thể có được. Tuy nhiên, cũng tương đối dễ dàng cho vấn đề mở rộng trong tương lai cũng như loại bỏ mọi bàn cãi giữa cư dân và người phong cùi. Những cuộc bàn cãi này xảy ra thường xuyên và gay gắt. Công trình sẽ mở rộng, trong tương lai không xa, toàn bộ vũng Qui Hòa sẽ trở thành Thung lũng của người phong cùi.
Chúng tôi đã chia đất thành mười sáu khu.
Tại các khu A và B, chúng tôi xây dựng bệnh viện. Khu bệnh viện sẽ bao gồm: Một tòa nhà có phòng y tế, phòng nghiên cứu thuốc và phòng khám, nơi những người phong của Trại cùi sẽ được chăm sóc; dãy nhà bệnh nhân nơi tiếp nhận những người phong cùi mất tay chân không thể lao động được. Những căn nhà này sẽ bao gồm các phòng hai giường, nơi các hộ gia đình có thể sống chung. Nhà ở dành cho con cái không bị bệnh phong của những bệnh nhân phong cùi, những người sống tách riêng khỏi cha mẹ, nhưng vẫn có thể thăm viếng họ thường xuyên. Cuối cùng, ở trung tâm là cộng đoàn các nữ tu, những người cần thiết cho công việc này.
Khu C được dành cho Ban Giám đốc, nơi ở của Cha Giám đốc và Phó Giám đốc, một nhà thờ và phòng hội để chiếu phim hay chơi nhạc, một trang trại mẫu, một nhà máy điện nhỏ, tháp nước, v.v.
Khu D sẽ dành riêng cho các vườn trồng rau, nghiên cứu nông nghiệp và vườn ươm cây.
Tất cả các khu khác sẽ được phân lô cho những người phong cùi, họ sẽ có nhà riêng, ruộng lúa và vườn; đây sẽ là Khu nông nghiệp.
Ở trung tâm sẽ là quảng trường làng và chợ.
Công việc đã được tiến hành tốt đẹp - phòng khám sẽ sớm hoàn thành. Những người phong cùi đang bắt đầu đến đó mà không bị hạn chế.
Hôm qua, một người phong cùi giàu có đã đến với chúng tôi để xin được sống trong Trại phong; ông ấy đã đồng ý xây nhà ở đó.
Đây là bằng chứng cho thấy công việc của chúng tôi đã được biết đến ở đất nước này.
Chúng tôi đã ghi nhận một thầy thuốc người Việt chữa lành một người phong cùi. Chúng tôi đã liên lạc được với thầy thuốc này và nhận được sự hỗ trợ của ông. Ông hiện đang ở Qui Hòa, áp dụng các phương pháp của mình, và nếu một hay nhiều bài thuốc của ông khiến chúng tôi quan tâm, chúng tôi sẽ nghiên cứu chúng.
Công việc của chúng tôi sẽ tốt đẹp vì dựa trên đức tin và lòng tận tụy. Nó có tính nhân đạo vì đón tiếp những người bị ruồng bỏ. Nó mang tính xã hội vì bảo vệ xã hội khỏi sự lây nhiễm. Nó có tính khoa học vì chúng tôi sẽ áp dụng các phương pháp điều trị và vệ sinh hiện đại. Nó có thể trở thành một trung tâm nghiên cứu cho các nhà phong cùi học. Nó sẽ mang lại vinh dự cho nước Pháp và Việt Nam.
Chúng tôi muốn nó phải hoàn hảo. Chúng tôi cần rất nhiều tiền. Hai mươi ngàn đồng do Ngân sách Địa phương ứng trước sẽ phải được hoàn lại vào năm tới bằng nguồn lực do các khoản đóng góp tự nguyện cung cấp.
Vì vậy, để kết thúc bài thuyết trình này, với tất cả trái tim người thầy thuốc của mình, chúng tôi xin những người khỏe mạnh và giàu có đừng quên những anh chị em khốn khổ đang đau đớn này của họ.
Linh mục Maheu, Giám đốc Trại phong Qui Hòa tại Việt Nam, hoặc Trú sứ Pháp tại Qui Nhơn, sẽ rất biết ơn khi nhận được bất kỳ khoản quyên góp nào gửi đến họ.
Bác sĩ Lemoine

Trại phong Qui Hòa.
Những căn nhà được xây dựng dành cho 1 hay 2 bệnh nhân
có vườn nhỏ chung quanh