BỔN PHẬN CỔ VÕ ƠN GỌI LINH MỤC VÀ TU SĨ Phương diện giáo luật và mục vụ 

Thứ năm - 08/10/2015 09:53
BỔN PHẬN CỔ VÕ ƠN GỌI LINH MỤC VÀ TU SĨ
Phương diện giáo luật và mục vụ 

Lm. Giuse Huỳnh Văn Sỹ

 

DẪN NHẬP

Những vấn đề liên quan đến ơn gọi linh mục và tu sĩ đã được bàn từ lâu và rất nhiều trong Giáo Hội như về mục đích, ý nghĩa thần học và những hình thức ơn gọi[1]. Trong đó bổn phận cổ võ ơn gọi thường được nhấn mạnh trong khá nhiều văn kiện của Giáo Hội, chẳng hạn như một số văn kiên công đồng Vaticanô II, những sứ điệp ơn gọi hàng năm của các Đức Giáo Hoàng, tông huấn Pastoes Dabo Vobis (1992) của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, bộ Giáo luật 1983, huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô (2002) của Bộ đời sống thánh hiến và hiệp hội đời sống tông đồ, tông huấn Evangelii Gaudium (2014) của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, tông thư Năm đời sống thánh hiến (2015) cũng của Ngài, sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi tính đến năm 2015 đã là lần thứ 52…

Trong bài này chúng ta xét bổn phận cổ võ ơn gọi theo khía cạnh pháp lý và mục vụ. Trước hết, chúng ta nên biết qua khái niệm về ơn gọi nói chung, cách riêng là ơn gọi trong đời sống thánh hiến linh mục và tu sĩ. Qua đó, chúng ta thấy được lý do và sự cần thiết phải cổ võ ơn thiên triệu mà đặc biệt là ơn gọi truyền giáo. Việc cổ võ ơn thiên triệu thực sự không đơn thuần chỉ là một lời khuyên thông thường nhưng cần nhìn chúng theo nhãn quan là một bổn phận có tính pháp lý theo giáo luật 1983 và theo luật riêng (hiến chương, hiến pháp của một số Hội Dòng). Với nhãn quan đó sẽ giúp chúng ta ý thức những vấn đề liên quan đến mục vụ ơn gọi, đặc biệt là tại các giáo xứ để từ đó có thể tìm ra những giải pháp khả thi và hiệu quả trong việc cổ võ ơn gọi trong hoàn cảnh nhiều khó khăn và thách đố hôm nay.

I. KHÁI NIỆM VỀ ƠN GỌI

1. Ơn gọi nói chung

Về mặt từ ngữ, “ơn gọi” được dịch từ tiếng latinh là vocatio, do động từ vocare có nghĩa là kêu gọi, mời gọi.

Khi dùng trong Giáo Hội, vocatio thường dùng để chỉ lời kêu gọi của Thiên Chúa đối với ai đó để thực thi công việc nào đó của cuộc sống, trong môi trường xã hội hay trong đời sống tu trì. Trong đời sống tu trì người ta phân biệt ơn gọi làm linh muc hay tu sĩ, đôi khi muốn rõ hơn người ta dùng hạn từ vocatio divina và đều dịch ra việt ngữ là “ơn thiên triệu” hay ơn gọi.

Ơn gọi là gì? Trong sách “Catholic Word Book” (Sách Từ Ngữ Công Giáo), trang 44, Nhà xuất bản Knights of Columbus, đưa ra khái niệm về ơn gọi như sau: «Đó là ơn gọi theo một cách sống. Nói chung, thuật ngữ này áp dụng cho ơn gọi chung của mọi người Thiên Chúa kêu gọi tới sự thánh thiện và ơn cứu độ. Đặc biệt, đó là nói tới tình trạng sống của mỗi người theo ơn gọi riêng, đó là hôn nhân, tu trì, linh mục, sống độc thân hoặc chấp nhận hoàn thành Ý Chúa. Thuật ngữ này cũng áp dụng cho các nghề nghiệp mà người ta sinh sống. Giáo Hội ủng hộ sự tự do của mỗi người trong việc chọn lựa nghề nghiệp nào đó, và duy trì quyền tự do chấp nhận của các ứng viên lên chức linh mục và khấn dòng. Có nhiều dấu hiệu để nhận biết ơn gọi, kể cả tài năng và mối quan tâm, tình huống và lời hứa, lời mời gọi của ân sủng và sẵn sàng đáp lại»[2].
Theo đó, ta thấy hạn từ “ơn gọi” được hiểu vừa theo nghĩa rộng áp dụng cho mọi người đồng thời cũng hiểu theo nghĩa hẹp là ơn gọi riêng dành cho mỗi người với những bậc sống khác nhau. Theo khái niệm nầy chúng ta thấy có nhiều loại ơn gọi: ơn gọi làm người, ơn gọi làm con Chúa tức là làm người Kitô hữu[3], ơn gọi sống thánh thiện, ơn gọi tu trì, linh mục, ơn gọi sống đời hôn nhân[4]; theo một nghề nghiệp nào đó để sinh sống cũng là ơn gọi[5].

Trong một số văn kiện của công đồng Vaticanô II, ơn gọi vừa hiểu theo nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng ơn gọi là dành cho hết mọi người vì mỗi người đều có ơn gọi[6]. Mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi nên thánh, làm người và làm Con Chúa[7]. «Tất cả mọi người trong Giáo Hội… đều được kêu gọi nên Thánh»[8]. Chính vì vậy, không chỉ có giám mục, linh mục và tu sĩ, mà cả giáo dân, nghĩa là “bất cứ ai theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Ðức Ái[9]. Ơn gọi hiểu theo nghĩa hẹp là áp dụng cho một số người nào đó như ơn gọi đời sống tu trì[10], ơn gọi làm giáo sĩ[11].

Một cách tổng quát, giáo luật điều 204 xác định rằng «với tư cách là những người đã được sáp nhập vào Đức Kitô nhờ bí tích rửa tội, các Kitô hữu tạo thành dân Chúa, và vì lý do này họ được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô theo cách thế riêng của mình, mỗi người tuỳ theo hoàn cảnh riêng của mình được kêu gọi thi hành sứ mạng Thiên Chúa đã uỷ thác cho Giáo Hội chu toàn trên trần gian».

Dù theo nghĩa nào đi nữa, ơn gọi hay ơn thiên triệu luôn có hai yếu tố đi liền với nhau và không mâu thuẫn: Thiên Chúa gọi và con người tự do đáp trả xét vì ơn sủng không đối chọi với tự do nhưng thôi thúc và nâng đỡ tự do. Ơn gọi bắt nguồn từ Thiên Chúa, sáng kiến của Thiên Chúa, Chúa chuẩn bị và thúc đẩy người nào đó. Về phần mình, con người đáp trả cách tự do, quyết tâm từ bỏ và bước theo Chúa, sống cho Chúa, rồi được thánh hiến tức là được dành riêng cho Chúa, đảm nhận những công việc đặc biệt trong dân Chúa… Bởi vậy, «tất cả mọi Kitô hữu có quyền tự do lựa chọn bậc sống mà không phải chịu bất kỳ một sự cưỡng bách nào»[12].

Thường khi dùng hạn từ ơn gọi hay ơn thiên triệu chúng ta nghĩ đến ơn gọi làm linh mục, tu sĩ nhiều hơn là về ơn gọi nói chung như đã nói trên[13]. Trong bài nầy, khi dùng hạn từ “ơn gọi”, “ơn thiên triệu”, nếu không nói rõ thêm, thì ngầm hiểu là về ơn gọi linh mục và tu sĩ.

2. Vai trò các ơn gọi trong sứ mạng của Giáo Hội
Như đã nói, Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi ơn gọi. Ngoài ơn gọi nói chung, Thiên Chúa còn ban cho Giáo Hội những ơn gọi riêng như linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ để theo sát Đức Kitô hơn và để phục vụ Giáo Hội, phục vụ dân Chúa. Trong hoàn cảnh ngày nay, kể cả tại Việt Nam, những ơn gọi linh mục và tu sĩ được Giáo Hội quan tâm rất nhiều vì có những vai trò quan trọng với những chức năng đặc thù của bậc sống tương ứng, cách riêng trong công cuộc  truyền giáo và Tân Phúc âm hóa.

Theo công đồng Vaticanô II, «xét theo thể chế của Giáo Hội do Chúa thiết lập và có phẩm trật, thì bậc sống tu trì không ở giữa bậc giáo sĩ và giáo dân; thực vậy Thiên Chúa kêu gọi một số Kitô hữu ở cả hai bậc giáo sĩ và giáo dân đến hưởng lấy ân huệ đặc biệt trong đời sống Giáo Hội, và mỗi người một cách góp phần vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội»[14].

Giáo luật có đưa ra tiêu chuẩn chính để phân biệt giữa các bậc sống (status)[15] của người Kitô hữu đó là có chức thánh hay không có chức thánh tương ứng với giáo sĩ hay giáo dân[16]. Rồi những người giáo sĩ hay giáo dân ấy có thể trở thành những tu sĩ sống đời tận hiến nhờ việc tuyên khấn hay một sự ràng buộc nào đó tuyên giữ ba lời khuyên phúc âm. Giáo luật điều 207§2 minh định «có những Kitô hữu được thánh hiến cho Thiên Chúa một cách đặc biệt và phục vụ sứ mạng cứu độ của Giáo Hội do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm bằng những lời khấn hoặc những mối ràng buộc thánh khác, được Giáo Hội công nhận và phê chuẩn; tuy bậc sống của họ không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội»[17].

Như vậy, một cách tổng quát, trong Giáo Hội có thể phân biệt ba ơn gọi tương ứng các bậc sống giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Sự phân biệt ở đây không nhằm “phân biệt giai cấp” nhưng nhằm làm sáng tỏ ba chiều kích chính yếu của bản chất và sứ mạng của Giáo Hội[18].

Trước hết, hàng giáo sĩ nhờ chức thánh, tượng trưng cho sự hiện diện Đức Kitô mục tử nhân lành chăm sóc đoàn chiên được sống và sống dồi dào cách riêng bằng Lời Chúa, Các Bí Tích và sự dấn thân. Trừ chức Phó tế, thì Giám Mục và linh mục đều cử hành các bí tích với tư cách “In Persona Christi[19]. Thật vậy, «do bí tích truyền chức thánh đã được Thiên Chúa thiết lập, một số Kitô hữu được đặt làm thừa tác viên có chức thánh, nhờ được ghi ấn tích không thề xóa nhòa, như thế họ được thánh hiến và được chỉ định, mỗi người tùy theo cấp bậc của mình, với cách thức mới và đặc thù, để phục vụ Dân Thiên Chúa»[20].

Tiếp đến, «đời sống thánh hiến qua việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm là một lối sống bền vững, nhờ đó, các tín hữu theo sát Đức Kitô hơn, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa mà họ yêu mến trên hết mọi sự, để một khi đã hiến thân cho việc tôn vinh Thiên Chúa, cho việc xây dựng Giáo Hội và cho phần rỗi thế giới, với một danh nghĩa mới mẻ và đặc biệt, họ đạt tới sự hoàn hảo của đức ái trong việc phụng sự Nước Chúa, và một khi đã trở nên dấu chỉ rực rỡ trong Giáo Hội, họ tiên báo vinh quang thiên quốc»[21]. Hơn nữa, họ được «Thiên Chúa đặc biệt mời gọi vào bậc sống ấy, để hưởng một hồng ân đặc biệt trong đời sống Giáo Hội và để góp phần vào sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội, theo mục tiêu và tinh thần của tu hội»[22].

Sau cùng, đối với bậc sống giáo dân nhắc nhớ chúng ta rằng đời sống Giáo Hội không tách biệt với thực tại trần thế hay khép kín nội bộ nhưng Giáo Hội phải mang ơn cứu độ đến khắp nơi trần thế và làm nó thấm nhiễm tinh thần Phúc âm. Đó là tiến trình Phúc âm hóa mà hiện nay chúng ta đang nói tới. «Tùy theo hoàn cảnh riêng của mỗi người, các giáo dân có bổn phận đặc biệt phải làm cho trật tự các thực tại trần thế được thấm nhuần tinh thần Phúc âm và được kiện toàn và họ phải làm chứng cho Đức Kitô một cách đặc biệt khi điều hành trật tự này, cũng như khi hoàn thành những trách nhiệm trần thế»[23].

Hiểu được vai trò, chức năng của các ơn gọi nói chung,  cách riêng là ơn gọi linh mục và tu sĩ vừa nói, phần nào giúp chúng ta thấy lý do tại sao Giáo Hội luôn chú trọng cổ võ các ơn gọi này. Mặt khác, xét về số lượng, so với giáo dân, thì giáo sĩ và tu sĩ là con số nhỏ nhoi, hơn nữa con số đó ngày càng có xu hướng giảm dần, nhất là đối với nữ tu[24]. Bởi vậy đây cũng là một yếu tố mà chúng ta lưu tâm để ra sức cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ.

II. BỔN PHẬN CỔ VÕ ƠN GỌI LINH MỤC VÀ TU SĨ

Giáo luật Điều 233§1 minh định rằng «toàn thể cộng đồng Kitô giáo có bổn phận phải cổ động các ơn gọi để đáp ứng đủ những nhu cầu của thừa tác vụ thánh trong toàn thể Giáo Hội; bổn phận này bó buộc cách riêng các gia đình Kitô giáo, các nhà giáo dục, và đặc biệt là các tư tế, nhất là các cha sở. Các Giám Mục giáo phận là những người quan tâm hơn cả về việc cổ động các ơn gọi, phải dạy cho giáo dân của mình biết tầm quan trọng của thừa tác vụ thánh và sự cần thiết của các thừa tác viên có chức thánh trong Giáo Hội, các ngài phải khơi dậy và nâng đỡ những sáng kiến cổ động các ơn gọi, nhất là qua các cơ sở đã được thành lập nhằm mục đích ấy».

Điều 385 còn nói rõ «Giám mục giáo phận phải hết sức cổ võ các ơn gọi cho các tác vụ khác nhau và cho đời thánh hiến, đặc biệt quan tâm đến các ơn gọi tư tế và thừa sai».

Những khoản luật nói trên đúc kết tinh thần của công đồng Vaticanô II về việc cổ võ ơn gọi, cách riêng là trong sắc lệnh đào tạo linh mục Optatam Totius số 2-3, và ơn gọi tu sĩ trong sắc lệnh canh tân dòng tu Perfectae Caritatis số 24. Những khoản luật trên nói rõ những ai có trách nhiệm trong việc cổ võ ơn gọi, cách riêng đích danh các Giám mục giáo phận và các cha xứ. Không chỉ hai khoản luật trên, mà còn nhiều chỗ khác trong giáo luật cũng đề cập vấn đề này[25]. Qua đó, chúng ta thấy tính pháp lý của bổn phận cổ võ ơn gọi cũng như trách nhiệm của mọi thành phần dân Chúa đối với bổn phận này.

1. Cổ võ ơn gọi là một bổn phận có tính pháp lý

Khi giáo luật điều 233§1 sử dụng cụm từ “bổn phận cổ võ ơn gọi” (officium incumbit fovendarum vocationum), khiến chúng ta có thể hiểu rằng đây là chỉ là một lời khuyên. Mà đã là lời khuyên thì không có sự bó buộc nào đó nhất định, bởi vậy ai muốn giữ thì thì giữ không muốn thì thôi, tức là có thể làm theo ý thích cá nhân. Tuy nhiên theo khoản luật này, việc cổ võ ơn gọi không là một lời khuyên mà là một trách nhiệm có tính pháp lý[26]. Tính pháp lý nói ở đây chính là bổn phận này dựa trên cơ sở pháp luật đã quy định rõ ràng tức là có sự bó buộc do luật định; bổn phận đó có gắn liền với những quyền lợi nhất định và đồng thời bổn phận đó chi phối những người liên hệ do luật ấn định.

Trước hết, khi nói bổn phận cổ võ ơn gọi có tính pháp lý chúng ta cần hiểu rằng nó có sự bó buộc do luật ấn định hay người có thẩm quyền đặt ra chứ không phải do cá nhân hay bất cứ người nào khác. Chúng ta biết rằng bổn phận là mối ràng buộc giữa con người với nhau, nhờ đó một người có thể yêu cầu người khác điều gì đó như một sự bắt buộc phải chu toàn vì quyền lợi người khác, trong đó vừa không được cản trở người khác thực hiện quyền của mình vừa phải chu toàn việc người khác yêu cầu[27].

Hạn từ “bổn phận” được dịch từ tiếng latin officium có nguồn gốc từ tiếng efficiere, có nghĩa là một hoạt động, hành động phải thực hiện vì người khác. Nói chung, hạn từ bổn phận diễn tả một trách nhiệm phải làm hay không được làm điều gì đó. Như vậy, từ bổn phận để chỉ về một hành vi hay một sự từ khước điều gì đó do luật quy định[28]. Cụ thể, đối với bổn phận cổ võ ơn gọi chúng ta thấy được giáo luật quy định rõ ràng trong một số khoản luật, chẳng hạn các điều 215; 233; 256; 385; 574;… Ngoài ra, chúng ta thấy bổn phận nầy được đề cập trong nhiều văn kiện công đồng Vaticanô như Optatam Totius số 2-3; Perfectae Caritatis số 24[29]; bổn phận nầy còn được những văn kiện khác của Giáo Hội hướng dẫn thi hành như Tông huấn Pastores Dabo Vobis số 41, Huấn thị (instructio[30]) Xuất phát lại từ Đức Kitô số 16-17, hoặc mới đây nhất là Tông thư năm đời sống Thánh Hiến 2015 của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (số II.1). Hơn nữa trong hầu hết hiến pháp (hiến chương) của các Hội dòng sống đời thánh hiến đều có khoản quy định về bổn phận nầy, ví dụ Hiến chương Hội Dòng Mến Thánh Gia Qui Nhơn điều 78; hiến pháp Dòng Maria Nữ Vương Hòa Bình giáo phận Ban Mê Thuột, điều 90; Hiến Chương Dòng nữ Tỳ Chúa Giêsu Tình Thương giáo phận Qui Nhơn điều 134; Hiến pháp Dòng Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ điều 101 và điều 34 Qui luật bổ túc của Dòng dựa trên hiến pháp cũ…

Tiếp đến, bổn phận cổ võ ơn gọi có tính pháp lý vì nó gắn liền với những quyền lợi nhất định. Thật vậy giữa quyền lợi và bổn phận có mối tương quan chặt chẽ. Mối tương quan nầy logic, nền tảng và không thể tách rời. Mỗi một quyền lợi đều ám chỉ một bổn phận hay nghĩa vụ tương ứng kèm theo và ngược lại. Điều nầy cũng được bộ giáo luật nhấn mạnh trong quyển II, đề mục I và II, trong đó cả hai hạn từ nghĩa vụ và bổn phận được dùng trong tương quan với quyền lợi[31]. Ở đây bổn phận cổ võ ơn gọi cũng có những quyền lợi kèm theo tương ứng.

Cụ thể, quyền lợi gắn liền với bổn phận cổ võ ơn gọi là gì? Dễ thấy những quyền lợi kèm theo bổn phận cổ võ ơn gọi khi chúng ta bàn về vai trò, chức năng của hàng giáo sĩ và tu sĩ trong Giáo Hội như đã nói trên. Chúng ta có thể thấy bổn phận cổ võ ơn gọi vừa mang lại lợi ích chung cho Giáo Hội và vừa cho mỗi cá nhân nữa, chẳng hạn để phục vụ dân Chúa, góp phần vào sứ mạng cứu độ của Giáo Hội, đặc biệt là về truyền giáo và nên thánh của mỗi người…

Thật vậy, ở đây chúng ta cần nói thêm rằng, «ơn gọi linh mục là một ân huệ của Thiên Chúa, ân huệ ấy chắc chắn tạo thành một thiện ích lớn đối với người đầu tiên được trao gởi. thế nhưng đó cũng là một ân huệ dành cho toàn thể Giáo Hội, một thiện ích cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội»[32]. Chúng ta có thể nói một cách tương tự đối với ơn gọi tu sĩ là đem lại thiện ích cho sứ vụ vì Nước Trời, vì sự thánh thiện của toàn dân Chúa, vì lợi ích của cộng đoàn hội dòng và cho cá nhân người tu sĩ nữa[33]. Nhiều điều trong giáo luật cũng xác định như thế, ví dụ điều 1008; 573-574.
Chúng ta biết rằng những nghĩa vụ và quyền lợi trong Giáo Hội phải nhằm tới salus animarum. Khác với tổ chức xã hội, đối với Giáo Hội đó là một nguyên tắc tối thượng[34], là công ích của Giáo Hội. Trong Giáo Hội quyền lợi và bổn phận là những phương tiện để đạt tới mục đích nầy, trong đó bổn phận cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ không phải là một ngoại lệ. Ở đây chúng ta cũng thấy mối liên hệ giữa công ích của Giáo Hội với quyền lợi cá nhân, tức là phần rỗi các linh hồn.

Sau nữa, tính pháp lý của bổn phận cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ ở chỗ nó chi phối đến những người do luật ấn định phải giữ. Đó là các gia đình trong đó đặc biệt là các bậc cha mẹ, rồi đến các nhà giáo dục, các linh mục, nhất là cha xứ và Giám mục giáo phận (đ. 233). Ta thấy bổn phận nầy buộc mọi thành phần dân Chúa và không chỉ trong giáo luật quy định mà trong nhiều văn kiện khác của Giáo Hội đều ấn định như vậy[35].

2. Cổ võ ơn gọi là bổn phận của mọi tín hữu

Nội dung điều 233§1 cho chúng ta thấy trách nhiệm cổ võ ơn gọi là của mọi thành phần dân Chúa và được xây dựng theo cấp độ bậc thang hình kim tự tháp, trong đó có đáy là gia đình Kitô hữu, rồi đến các nhà giáo dục, và cao hơn là các tư tế và đặc biệt là các cha xứ, sau cùng trên đỉnh là Giám mục. Điều nầy cho thấy tiến trình thông thường một ơn gọi bắt đầu từ dưới cơ sở căn bản là gia đình, cha mẹ rồi sau đó lớn dần lên qua các cơ sở khác trong Giáo Hội. Tuy nhiên bổn phận cổ võ ơn gọi cần phải thực thi trong suốt cuộc sống Kitô hữu, nhất qua đời sống gương mẫu của mỗi người Kitô hữu, đặc biệt là của linh mục và tu sĩ.

Giám Mục: «Trách nhiệm đầu tiên của nền mục vụ hướng về các ơn gọi linh mục, đó là trách nhiệm của Giám mục, Giám mục được mời gọi đích thân đảm nhận trách nhiệm ấy, ngay cả khi Ngài có thể và phải cổ võ những nguồn cộng tác đa dạng… Giám mục phải chăm lo cho chiều kích các ơn gọi luôn luôn hiện diện trong toàn bộ mục vụ bình thường, hơn nữa sao cho chiều kích ấy được hội nhập và được đồng hóa với mục vụ. chính Giám mục có trách nhiệm cổ võ và điều hợp các sáng kiến dị biệt ấy để mưu ích cho các ơn gọi»[36]. Và không chỉ lo ơn gọi linh mục, giáo luật cũng nhắc các Giám Mục cổ võ các ơn gọi khác nhau và cho đời sống thánh hiến[37].

Linh mục: Tiếp đến, là những cộng tác viên của Giám mục, các linh mục cùng với Giám mục của mình «đều liên đới với nhau, và đồng trách nhiệm với nhau trong việc mưu cầu và trong việc thăng tiến các ơn gọi linh mục… “Với tư cách là những nhà giáo dục đức tin, các linh mục có trách nhiệm chăm lo sao cho mỗi Kitô hữu, trong chúa thánh thần, đạt tợi sự triển nở ơn gọi của bản thân mình” (PO số 6)»[38]. Hơn nữa, không chỉ lo ơn gọi linh mục, «các linh mục và các nhà giáo dục Kitô giáo phải hết sức cố gắng để cổ động cho ơn gọi tu dòng được thêm đông, được chọn lựa thận trọng và thích đáng hầu đáp ứng đầy đủ với nhu cầu của Giáo Hội»[39].

Cha xứ: Trong giáo xứ, cha xứ có vai trò đặc biệt nên Giáo luật chỉ đích danh bó buộc cha xứ giữ bổn phẩn cổ võ ơn gọi[40]. Thực vậy, cha xứ thường là người biết các gia đình trong giáo xứ, ngài có thể động viên gia đình trong việc giáo dục và định hướng con đường tu trì cho con cái. Cha xứ thường là người chịu trách nhiệm tổ chức hướng dẫn các phong trào, các hội đoàn và từ nơi đó phát sinh mầm ơn gọi được nuôi dưỡng và phát triển. Giáo Hội tại Việt Nam hiện nay cho thấy ảnh hưởng của cha xứ còn rất lớn đối với đời sống cá nhân và gia đình trong giáo xứ. Do đó, trong giáo xứ có nhiều ơn gọi hay không phần lớn là do cha xứ có chu toàn thực sự tốt bổn phận võ ơn gọi linh mục, tu sĩ hay không.

Nói chung, đối với linh mục, bổn phận cổ võ ơn gọi là «một đòi hỏi không thể thoái thác của đức ái mục tử»[41].

Tu sĩ: Đối với các tu sĩ thì càng phải ý thức bổn phận cổ võ ơn gọi, không chỉ cho Hội dòng của mình nhưng còn hướng đến cho toàn thể Giáo Hội[42]. Thường hiến chương (hiến pháp) của từng hội dòng đều có quy định về bổn phận nầy. Chẳng hạn hiến chương dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn, điều 78 quy định: «tất cả chị em, tùy cương vị đều có trách nhiệm đối với những ơn gọi mà Chúa Thánh Thần không ngừng khơi lên trong Hội Thánh». Tuy nhiên, «Hội dòng cần có một hay nhiều người chuyên trách về mục vụ ơn gọi». Hiến chương đang được áp dụng của Hội dòng nữ Tỳ Chúa Giêsu Tình Thương giáo phận Qui Nhơn, điều 134, quy định rằng «tất cả chị em đều có bổn phận và trách nhiệm để cổ động ơn gọi cho hội dòng mình cũng như ơn gọi chung cho cả Giáo Hội…». Giáo luật quy định Hiến pháp mỗi Hội dòng phải định những gì cần thiết để đạt mục đích ơn gọi[43].

Giáo xứ - hội đoàn: Bổn phận của giáo xứ trong đó có các hội đoàn phải lo cổ võ ơn gọi bởi vì «giáo xứ là nơi các thanh niên tham dự vào đời sống phong phú của mình. Các giáo chức và tất cả những ai, bằng bất cứ cách nào, lo việc giáo dục thiếu nhi và thanh niên, nhất là những hội đoàn công giáo phải chú tâm đào luyện các thanh thiếu niên được ủy thác cho mình để họ có thể nhận ra ơn thiên triệu và sẵn lòng bước theo»[44].

Giáo dân - các nhà giáo dục: «Các tín hữu giáo dân, cách riêng giáo lý viên, những nhà giảng dạy, những nhà giáo dục, những linh động viên của mục vụ cho người trẻ, mỗi người tùy theo tài nguyên và khả năng triêng của mình, đóng một vai trò rất quan trọng trong mục vụ ơn gọi linh mục»[45]. Thật vậy, trong giáo phận và giáo xứ có những nhóm, hội đoàn hay những tổ chức lo cổ võ ơn gọi, các thành viên trong các nhóm ấy cống hiến phần đóng góp bằng cầu nguyện và bằng khổ đau của mình cho những ơn gọi linh mục và tu sĩ, đồng thời nâng đỡ các ơn gọi ấy về tinh thần cũng như vật chất. Các tổ chức giáo dân ấy được nhìn nhận là một môi trường đặc biệt giàu ơn gọi tận hiến và họ có thể đóng góp phần mình vào sự phát triển mục vụ các ơn gọi[46].

Gia đình - cha mẹ: Như trên đã nói, cấp độ quan trọng và nền tảng cho việc cổ võ ơn gọi bắt đầu từ gia đình, trong đó cha mẹ có vai trò đặc biệt. thật vậy, «các gia đình sống tinh thần đức tin, đức mến và đạo hạnh trở nên như chủng viện tiên khởi»[47]. Các tín hữu phải nhờ gia đình hoạt động để xây dựng Giáo Hội[48] và gia đình buộc tán trợ các ơn gọi thánh[49]. Gia đình, “Giáo hội tại gia” (Lumen Gentium, số 11), luôn cống hiến và còn tiếp tục cống hiến những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các ơn gọi khác nhau trong Giáo Hội[50].

Tóm lại, «bậc sống của những người tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm trong các tu hội như thế thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội, do đó phải được mọi người trong Giáo Hội khích lệ và cổ võ»[51]. Như thế, «toàn thể cộng đoàn Kitô hữu có bổn phận cổ võ các ơn thiên triệu, mà trước hết phải tiến hành nghĩa vụ ấy bằng một đời sống Kitô hữu trọn vẹn»[52].

3. Cổ võ ơn gọi truyền giáo

Tại sao cần chú trọng cổ võ ơn gọi truyền giáo? Chúng ta biết rằng «hoạt động truyền giáo bắt nguồn sâu xa từ chính bản tính của Giáo Hội. Nó truyền bá đức tin cứu rỗi của Giáo Hội, hoàn tất sự hiệp nhất công giáo của Giáo Hội bằng cách làm bành trướng sự hiệp nhất này, nó dựa vào tính cách tông truyền của Giáo Hội, nó thể hiện ý nghĩa cộng đoàn của hàng giáo phẩm, nó làm chứng, truyền bá và thúc đẩy sự thánh thiện của Giáo Hội»[53]. Giáo luật điều 781 xác định «vì toàn thể Giáo Hội mang tính cách truyền giáo do bản chất của mình và vì việc truyền giáo phải được coi là một bổn phận căn bản của dân Chúa, cho nên mọi Kitô hữu ý thức được trách nhiệm riêng của mình phải tham gia vào công cuộc truyền giáo».

Đối với các thừa tác viên có chức thánh, «nhờ bí tích truyền chức thánh,các tư tế tham dự vào tính phổ quát của sứ vụ được Đức Kitô trao phó cho các tông đồ. Hồng ân thiêng liêng các ngài nhận lãnh trong việc truyền chức, chuẩn bị các ngài, không phải cho một sứ vụ giới hạn và thu hẹp, nhưng cho sứ vụ rất rộng lớn có tính phổ quát, “cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8), đến độ các ngài sẵn sàng đi rao giảng Tin Mừng ở bất cứ nơi nào»[54].

Đối với các tu sĩ, điều 783 qui định rằng «vì các thành viên của các tu hội thánh hiến dấn thân phục vụ Giáo Hội do chính sự thánh hiến của mình, cho nên họ buộc phải hoạt động cách đặc biệt cho công cuộc truyền giáo, theo thể thức riêng của hội dòng». Như vậy tương hợp với khẳng định của Giáo luật điều 573 rằng các tu sĩ được thánh hiến «cho việc tôn vinh Thiên Chúa, cho việc xây dựng Giáo Hội và cho phần rỗi thế giới, với một danh nghĩa mới mẻ và đặc biệt», điều 783 nhắc lại nhờ hồng ân thánh hiến các tu sĩ phải hoạt động cách đặc biệt cho công cuộc truyền giáo.

Đáng chú ý là hoạt động truyền giáo có vai trò ưu tiên đối với các tu sĩ. Đặc tính của đời sống thánh hiến là làm cho sứ điệp Tin Mừng có thể được đón nhận nơi các tôn giáo không phải là Kitô giáo. Việc tham gia vào hoạt động truyền giáo của các tu sĩ phù hợp với bản chất Hội dòng của họ, dựa trên căn bản là sự thánh hiến với lời tuyên khấn phục vụ Giáo Hội.

Đối chiếu bổn phận truyền giáo với bổn phận cổ võ ơn gọi chúng ta có thể thấy chúng có mối liên hệ hỗ tương, logic, không tách rời và không cản trở nhau. Cả hai bổn phận này với những quyền lợi kèm theo đều dựa trên năm nguyên tắc trong Giáo Hội: hiệp thông (communio), truyền giáo (missio), công ích, salus animarum và đồng trách nhiệm[55]. Bổn phận truyền giáo gắn liền với bổn phận cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ. Thực hiện bổn phận truyền giáo thì cũng phải giữ bổn phận cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ. Giáo luật điều 791,10 minh nhiên ấn định rằng : «Để cổ võ việc cộng tác truyền giáo, mỗi giáo phận phải khích lệ các ơn gọi truyền giáo».

III. MỤC VỤ CỔ VÕ ƠN GỌI TẠI GIÁO XỨ

Trong việc thực thi bổn phận cổ võ ơn gọi, cách riêng là ơn gọi truyền giáo, chúng ta không thể không chú ý đến thực trạng hiện nay. Ngoài những yếu tố từ bên trong, những khuynh hướng nơi mỗi người, chúng ta không thể bỏ qua những ảnh hưởng tiêu cực lẫn tích cực từ môi trường sống hiện nay. Nhận diện những ảnh hưởng đó giúp chúng ta thực hiện bổn phận cổ võ ơn gọi hiệu quả và thực tế hơn.

1. Những khó khăn và thách đố

Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô số 12 đã nêu ra vài điểm khó khăn đồi với đời sống thánh hiến hôm nay, dĩ nhiên trong đó có ơn gọi linh mục nữa. Những khó khăn này chắc chắc ảnh hưởng rất lớn đến việc cổ võ ơn gọi ngày nay. Chúng ta cần đối diện để có thể chu toàn bổn phận cổ võ ơn gọi cách hiệu quả nhất tùy theo bậc sống của mình.

Khó khăn dễ nhận ra trước hết đó là số tu sĩ suy giảm và lớn tuổi trong các Hội dòng, từ đó đặt ra câu hỏi liệu đời sống thánh hiến còn là chứng tá khả thị có khả năng thu hút người trẻ nữa không. Thực tế, nhiều Giáo hội địa phương con số linh mục cũng giảm sút trong khi đó linh mục cao niên cũng tăng. Tại Việt Nam, thực tế cho thấy ơn gọi vẫn dồi dào, số tu sĩ, linh mục trẻ cũng tăng. Những năm sắp tới không lo lắng về con số tu sĩ, linh mục, nhưng về sau, khi mà các gia đình ngày càng ít con, 1-2 con, thì khó khăn về con số ơn gọi là điều có thể xảy ra trong tương lai[56].

Khó khăn tiếp theo đó là đời sống tu trì hiện nay đã không được trân trọng đúng mức, nhiều người (trong Giáo Hội lẫn xã hội) dần mất sự tin tưởng vào linh mục, tu sĩ.

Sau nữa, người sống đời thánh hiến hôm nay cũng cảm nghiệm những đe doạ của sự tầm thường trong đời sống thiêng liêng, của việc trưởng giả hoá lần lần và não trạng tiêu thụ.

Mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nhận xét rằng «đời sống thánh hiến đang gặp nhiều khó khăn dưới mọi hình thức: ơn gọi sụt giảm, các thành viên tuổi cao, nhất là tại các nước Tây phương, những vấn đề kinh tế tiêp theo cuộc khủng hoảng tài chánh trầm trọng, những thách đố của việc quốc tế hóa và toàn cầu hóa, những nguy cơ của thuyết tương đối, đời tu bị gạt ra bên lề và không được xã hội trân trọng...»[57]. Và có thể nói một cách tương tự những khó khăn đó cũng là khó khăn đối với đời sống linh mục hôm nay.

Có thể nói rằng «cuộc khủng hoảng các ơn gọi linh mục có những căn rễ sâu xa trong môi trường văn hoá, trong não trạng và trong cách giữ đạo của các Kitô hữu»[58]. Hiện nay tại Việt Nam đời sống linh mục tu sĩ đang phải đối diện khá nhiều thách đố - khủng hoảng về nhiều mặt[59].

Khủng hoảng về luân lý
Dững dưng, vô cảm vì sự an toàn cho bản thân.

Chủ nghĩa tiêu thụ và nền kinh tế thị ttường làm chúng ta tìm an nhàn thư thái riêng, vui thú nhóm nhỏ, bằng lòng với chính mình. Ích kỷ, chỉ biết lo cho mình, nhóm mình, lớp mình,… tức là cái gì thuộc về mình cá nhân hay nhóm

Thiếu trung thực ở mọi lĩnh vực, dễ dàng, như một phản xạ, cho đó là sự khôn lanh, khéo léo né tránh sự bắt gặp của bề trên. Có khi cứng cỏi, chống trả và đòi bằng chứng, nếu không coi như không có.

Lương tâm sai lệch: Cho rằng trung thực bị thua thiệt, lệch lạc cả về vấn đề tính dục: dễ dàng xem phim, internet có những nội dung sex, dễ dãi trong quen biết nam nữ, kể cả qua hệ thống truyền thông skype, facebook, viber, zalo, facetime…

Khủng hoảng về văn hóa

Lười tư duy, không muốn làm việc tri thức, sử dụng internet ăn cắp: “copy”, phần mềm dò tìm password, PIN, Code, đánh cắp thông tin cá nhân tài khoản dễ dàng và cho rằng không có tội. Lười biếng về tri thức, người ta ít muốn tìm tòi mà chỉ muốn lưu trữ để rồi đem ra áp dụng thủ thuật Copy và Past.

Kiến thức, sự hiểu biết không gắn liền với sự thánh thiện, đạo đức. Chỉ khi liên kết hai yếu tố đó lại, kiến thức mới là một phương tiện giúp ta tìm được sự khôn ngoan đích thực.

Khủng hoảng về con người

Con người đề cao quá mạnh ý thức về sự tự do, tự trị và chủ thể tính của cá nhân từ đó đưa tới tôn sùng chủ nghĩa cá nhân một cách phi lý. «Chúng ta hôm nay đang thấy nơi nhiều người hoạt động mục vụ, gồm cả những người thánh hiến nam cũng như nữ, một sự quan tâm quá mức về tự do và sự thoải mái của bản thân họ, khiến họ coi công việc của họ như chỉ là một cái gì phụ thuộc chứ không phải một thành phần thuộc căn tính của họ… họ có một lối sống rất cá nhân chủ nghĩa, một sự khủng hoảng căn tính và nhiệt tình trở nên nguội lạnh» (Evangelii Gaudium số 78).

Hiện nay, cũng có thể nảy sinh sự xung khắc giữa định chế- cơ cấu và cá nhân.

2. Một số yếu tố thuận lợi trong việc cổ võ ơn gọi

Nhìn vào con số linh mục, tu sĩ tại Việt Nam hôm nay chúng ta có thể rất lạc quan cho tương lai Giáo Hội tại Việt Nam. Người ta cho rằng ơn gọi linh mục, tu sĩ tại Việt Nam dồi dào hơn so với âu mỹ là nhờ có nhiều yếu tố thuận lợi[60].

Thật vậy, trong thực tế hiện nay linh mục và tu sĩ vẫn đang được phần lớn công chúng, cộng đoàn Giáo Hội lẫn xã hội quý trọng, được yêu mến và dành những ưu tiên nào đó nhất định.

Bên cạnh đó, không chỉ bản thân linh mục, Giám mục hay tu sĩ mà gia đình và dòng tộc của họ lấy làm hãnh diện, vinh dự, được nhiều sự quý mến vì có con cháu được như thế. Điều này còn ảnh hưởng bởi một giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc Việt Nam. Chẳng hạn người ta cho rằng “cha mẹ hiền lành để đức cho con”, nên gia đình có con làm linh mục, Giám mục, tu sĩ, làm bề trên… được coi là “phúc đức” của gia đình, gia tộc.

Mặt khác người đi tu còn có mối quan hệ gia đình linh tông linh tộc, cha bảo trợ, cha xứ hỗ trợ, nâng đỡ về nhiều phương diện.

Một yếu tố khác nữa, đó là hiện nay nhiều gia đình, nhất là gia đình vùng quê, hoặc gia đình làm nghề tự do chứ không làm trong công ty hay công sở nhà nước, nên vẫn có nhiều con. Do đó việc dâng con cho Chúa trong đời sống tu trì vẫn còn khá dồi dào.

Trên đây được coi là những yếu tố thuận lợi trong việc cổ võ và đào tạo ơn gọi tại Việt Nam. Tuy nhiên chúng cũng có thể trở thành những cản trở, vì xét rằng những yếu tố đó trở nên áp lực rất lớn đối với người muốn đi tu, chẳng hạn có những trường hợp không xác tín ơn gọi cá nhân, động lực ơn gọi bị lệch lạc, chọn lựa quyết định của cá nhân bị lu mờ trước ảnh hưởng của gia đình, gia tộc, cha bảo trợ,…

Cuộc sống luôn có những khó khăn, những thách đố chúng ta có thể gọi chung là những khủng hoảng, tức là hiểu theo nghĩa tích cực và tiêu cực. Nghĩa tiêu cực của khủng hoảng ở chỗ đó là những yếu tố đưa đến sự suy thoái và tan rã, còn theo nghĩa tích cực thì đó là những yếu tố giúp biện phân để đi đến những chọn lựa và thay đổi để đạt tới một sức sống mới, hay nói khác đi là để phát triển và lớn lên[61]. Một khi hiểu như vậy chúng ta thấy những thách đố, hay khủng hoảng cũng vừa là cơ may. Cơ may đối với người tỉnh táo biện phận để tránh rơi vào vòng xoáy suy thoái và đánh mất mình, mất căn tính, mất nếp sống văn hóa đẹp, mất sự phân định đúng đắn giữa bao điều lệch lạc do số đông hay cơ chế tạo ra.

3. Phương thế cổ võ ơn gọi

Có nhiều phương thế để mọi thành phần dân Chúa có thể thực thi bổn phận để cổ võ ơn gọi của mình nơi các cộng đoàn Giáo Hội và đặt biệt là khởi đi từ các giáo xứ. Dựa vào một số văn kiện của Giáo Hội, chúng ta thấy có những phương thế căn bản sau đây.

a- Cầu nguyện: «Công việc đầu tiên của bất cứ chương trình mục vụ ơn gọi nào cũng luôn luôn là cầu nguyện»[62]. Thât vậy, «trong phẩm vị và trong trách nhiệm làm dân tư tế, Giáo Hội chỉ dẫn cho thấy kinh nguyện và việc cử hành phụng vụ là những nhịp cốt yếu và tiên khởi của mục vụ các ơn gọi… Do đó, điều cần thiết là phải giáo dục các thiếu nhi và thanh niên sao cho họ trung thành với việc cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa; trong thinh lặng và đón nghe, họ sẽ có thể nhận ra được lời mời gọi của Chúa tiến đến chức linh mục và mau mắn quảng đại đi theo Ngài»[63].

Tại các giáo xứ, cha xứ cần tìm cách thế thích hợp và rộng rãi giói thiệu ơn gọi và cần làm thường xuyên, tuy nhiên, cũng có những lúc cần được tăng cường mạnh như dịp tĩnh tâm các giới trong giáo xứ, chuẩn bị thêm sức hay dịp chuẩn bị cho các em trong đội giúp lễ[64].

b- Phụng vụ: «Là chóp đỉnh và là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, cách riêng, của mọi kinh nguyện Kitô giáo, phụng vụ cũng chiếm giữ một vai trò cần thiết và một ảnh hưởng đặt biệt trong mục vụ các ơn gọi. Thực ra, phụng vụ tạo thành một kinh nghiệm sống động về ân huệ của Thiên Chúa và một trường học đáng kể cho việc lời mời gọi của Ngài»[65].

c- Rao giảng về ơn gọi: «Cần có một “khoa rao giảng trực tiếp về mầu nhiệm ơn gọi trong Giáo Hội, về giá trị của chức linh mục thừa tác, về sự cần thiết bức bách của chức linh mục thừa tác đối với dân Thiên Chúa»[66]. Và dĩ nhiên là kể cả mọi ơn gọi đời sống thánh hiến nữa.

d- Giáo dục: «Trong công việc giáo dục, với một sự chú tâm đặc biệt, Giáo Hội nhằm khơi dậy nơi các trẻ nhỏ, nơi các thanh thiếu niên niềm khát vọng và ước muốn nối gót Đức Giêsu Kitô trong mọi sự và một cách kề cận… Mỗi người cần được giúp đỡ để lãnh nhận ân huệ được giao phó cho mình một cách cá nhân, với tư cách một ngôi vị độc nhất và bất khả thay thế, và cần được giúp đỡ để lắng nghe những lời mà thần khí Chúa tỏ với mình»[67].

e- Linh hướng và đồng hành: «Các trẻ nhỏ, các thanh thiếu niên phải được mời gọi khám phá và đánh giá ơn được ban là việc linh hướng, truy tầm ơn ấy, thực tập ơn ấy, yêu cầu ơn ấy, bằng một thái độ tha thiết và tin cậy, nơi các vị giáo dục mình trong đức tin. Về phía mình, các Linh mục phải là những người tiên phong cống hiến thời giờ và năng lực cho công trình giáo dục và trợ giúp thiêng liêng cho từng cá nhân: ước chi các linh mục đừng bao giờ hối tiếc vì đã coi thường hoặc đã để vuột mất sang hàng thứ yếu nhiều điều khác, ngay cả những điều đẹp đẽ và hữu ích, nếu như là việc không thể tránh khỏi để vẫn tiếp tục tin vào thừa tác vụ của mình là cộng tác với thần khí hầu soi sáng và hướng dẫn những ai được mời gọi»[68].

Tiếp cận và đồng hành với các mầm ơn gọi cách khoa học và bài bản sẽ giúp chúng ta thành công làm cho ơn gọi phát triển vững chắc, mạnh mẽ. Điều nầy đòi hỏi phải có “nghệ thuật đồng hành” như Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi chúng ta trong tông huấn Evangelii Gaudium[69].

f- Tập phục vụ - tự nguyện dấn thân: «Công việc phục vụ tình yêu là hướng đi cơ bản của mọi ơn gọi[70]». «Chính vì thế, một nền chính hiệu về ơn gọi sẽ không bao giờ nản chí trong việc giáo dục các trẻ nhỏ, các thanh thiếu niên về khát vọng dấn thân, về ý nghĩa của việc phục vụ nhưng không, về giá trị của hy sinh, về sự trao hiến chính mình một cách vô điều kiện»[71].

Xây dựng và củng cố và khích lệ những phong trào tự nguyện do động lực Tin mừng vì chúng ngày càng thu hút nhiều người trẻ, nhờ đó sẽ «giúp giáo dục những người trẻ biết phân định các nhu cầu, giúp họ mỗi ngày một sống tận tụy và trung thành, giúp họ sẵn sàng đón nhận khi cần kíp cuộc dấn thân dứt khoát trong đời tận hiến, lấy việc cầu nguyện làm lương thực. Tự nguyện như thế sẽ đỡ nâng cách chắc chắn hơn một cuộc đời dấn thân vô vị lợi và nhưng không, và sẽ làm cho người nào đeo đuổi cuộc đời ấy trở nên bén nhạy hơn đối với tiếng nói của Thiên Chúa…»[72].

g- Gặp gỡ - giới thiệu: «Các cộng đoàn cần tiếp đón và chia sẻ lý tưởng đời sống với những người trẻ, để cho họ bị thách thức bởi những đòi hỏi của sự chân thực và tự nguyện chấp nhận»[73]. Dĩ nhiên, không chỉ cộng đoàn nhưng mỗi cá nhân, linh mục và tu sĩ đều có những cơ hội để gặp gỡ, giới thiệu Chúa và ơn gọi thánh hiến cho những người trẻ, nhất là qua đời sống gương mẫu và hiện diện của mình trong cuộc sống.

h- Hiện diện và đời sống gương mẫu: «Sự hiện diện tích cực của những người thánh hiến sẽ giúp các cộng đoàn Kitô hữu trở nên những phòng thí nghiệm của đức tin, nơi tìm kiếm, suy tư và gặp gỡ, hiệp thông và hoạt động tông đồ, trong đó mỗi người cảm thấy mình tham gia vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa. Bằng cách đó, sẽ làm phát sinh bầu khí đặc trưng của Giáo hội như là một gia đình, một môi trường thuận tiện cho sự hiểu biết hỗ tương, chia sẻ và thấm nhiễm các giá trị vốn là cội rễ của các chọn lựa dâng hiến trọn đời vì sự nghiệp Nước Thiên Chúa»[74].

Cũng vậy, «mọi linh mục phải hết sức nêu cao lòng nhiệt thành tông đồ để khích lệ các ơn thiên triệu và lôi cuốn tâm hồn các thanh thiếu niên đến chức linh mục, bằng chính đời sống cá nhân khiêm nhượng, cần mẫn, vui tươi, cũng như bằng tình tương thân tương ái và cộng tác huynh đệ giữa các linh mục»[75]. «Lịch sử của Giáo Hội và lịch sử của biết bao ơn gọi linh mục, được nở rộ ngay cả vào lúc tuổi thơ, là một chứng cớ hùng hồn cho tính chất của việc sống kề cận với linh mục và của việc nghe lời linh mục nói: không những lời nói nhưng còn là sự kề cận, nghĩa là một chứng từ cụ thể, vui tươi, có khả năng làm trổi hiện những vấn nạn và dẫn đến những quyết định dứt khoát»[76].

Như thế, «mục vụ ơn gọi đòi hỏi phát huy các phương thức gặp gỡ mới mẻ và sâu sát; trao ban một chứng tá sống động về các nét đặc trưng của việc đi theo Đức Giêsu và của sự thánh thiện…»[77].

IV. MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ

Nhìn chung, đứng trước những khó khăn và thách đố hiện nay chúng ta cần ý thức rằng: «Điều khẩn thiết là mục vụ về các ơn gọi của Giáo Hội phải dứt khoát và ưu tiên chăm lo tái lập “não trạng Kitô giáo”, phát sinh từ đức tin và được đức tin nâng đỡ. Hơn bao giờ, hết, công cuộc phúc âm hoá hệ tại chỗ trình bày một cách không nhàm chán khuôn mặt thật của Thiên Chúa là Cha Đấng trong Đức Giêsu Kitô, kêu gọi mỗi người chúng ta, đồng thời trình bày ý nghĩa chính hiệu của tụ do nhân linh, xét như là nguyên lý và là sức mạnh của sự trao hiến chính mình một cách có trách nhiệm. Chỉ bằng cách đó mới có thể thiết lập được những nền tảng cần thiết để cho mọi ơn gọi, kể cả ơn gọi linh mục, có thể được cảm nhận trong chân lý của nó, được quí mến trong vẻ đẹp của nó,và được sống với lòng tận tụy hoàn toàn và với niềm vui sâu xa»[78].

Dựa theo những chỉ dẫn chung về việc cổ võ ơn gọi vừa nói trên đây, chúng ta có thể uyển chuyển để áp dụng những phương thế thích hợp với hoàn cảnh thực tế nơi giáo xứ hay các cộng đoàn tu trì.

1. Học hỏi - chia sẻ lẫn nhau

Trong giáo phận, giữa ban giáo sĩ - chủng sinh và ban tu sĩ, cách riêng giữa các hội dòng đối với ơn gọi tu sĩ cần có sự hỗ trợ và hiểu biết lẫn nhau về nhiều mặt. Trong thực tế, có nhiều linh mục giới thiệu ơn gọi cho các Hội dòng, nhất là dòng nữ và ngược lại cũng có nhiều nữ tu giới thiệu ơn gọi cho chủng viện hay Dòng nam. Tuy nhiên sự phối hợp có lẽ chưa đồng bộ và chưa có một chương trình chung nên hiệu quả chưa cao, còn rời rạc vì “đèn nhà ai nhà nấy rạng”.

Để làm tốt hơn công việc cổ võ ơn gọi, chúng ta có thể tổ chức các khóa học hỏi chung để thông tin nhất là học hỏi và chia sẻ về tinh thần, linh đạo hay đường hướng của các dòng tu, của chủng viện. Xét vì ơn thiên triệu là khởi đầu từ Thiên Chúa và là quà tặng nhưng không Chúa ban cho Giáo Hội chứ không của riêng ai, nên chúng ta ra sức cổ võ, tìm kiếm, giới thiệu và nuôi dưỡng ơn gọi thích hợp mỗi người trẻ vì lợi ích cho toàn Giáo Hội.

Nhờ việc học hỏi và chia sẻ với nhau về linh đạo và tinh thần giữa các dòng tu hay chủng viện phần nào giúp chúng ta không loại bỏ oan những mầm ơn gọi vì những lý do mơ hồ hay chủ quan, đôi khi do ích kỷ, do ác cảm. Thật vậy, đôi khi một người trẻ có ơn gọi không thích hợp ở chủng viện hay một hội dòng nào đó nhưng lại có thể thích hợp với một hội dòng khác. Nhờ việc học hỏi và hiểu linh đạo, đường hướng kể cả quy luật sống của các dòng tu hay của chủng viện, chúng ta sẽ dễ dàng hơn để giúp các bạn trẻ phân định ơn gọi của mình sao cho phù hợp với khả năng, cách sống và ý hướng ngay lành mà Chúa đã ban cho họ.

Việc chọn lựa bậc sống là quyền của người tín hữu mà chúng ta phải tôn trọng[79]. Chúng ta liên đới để thể chu toàn bổn phận cổ võ ơn gọi cho toàn Giáo Hội chứ không chỉ cho chủng viện hay hội dòng nào đó mà thôi. Đây cũng là điều trong hiến pháp của nhiều Hội dòng đã quy định, nhưng trong thực tế lại chưa thể hiện rõ nét và đôi khi có thể xảy ra tình trạng tranh cạnh ngầm, giành giật, lôi kéo ơn gọi giữa các dòng.

2. Hội đoàn cổ võ ơn gọi và phối hợp giữa các hội đoàn

Hiện nay trong giáo phận Qui Nhơn chúng ta chưa có một tổ chức chính thức hay hội đoàn nào chuyên lo việc cổ võ ơn gọi. Đó cũng là quyền của giáo dân như giáo luật minh định. «Các Kitô hữu có trọn quyền thành lập và điều hành các hiệp hội nhằm mục đích từ thiện hoặc đạo đức, hoặc nhằm cổ vũ ơn gọi Kitô trong thế giới, họ cũng được trọn quyền tự do hội họp để cùng nhau theo đuổi các mục đích đó»[80]. Tổ chức hay hội đoàn này cũng có thể cổ động tài chính để hỗ trợ ơn gọi lâu dài.

Dù chưa có hội đoàn cổ võ ơn gọi tu trì nhưng chúng ta có thể kêu mời các hội đoàn và tổ chức khác nhau trong giáo phận và từng giáo xứ cùng nhau tham gia chương trình chung của cổ võ ơn gọi cấp độ giáo phận, giáo hạt hoặc giáo xứ: như tổ chức những ngày hay buổi cầu nguyện, giờ thánh - chầu Thánh thể cho ơn gọi, cùng nhau dâng những thánh lễ đặc biệt cầu nguyện cho ơn gọi hay tổ chức phổ biến, học hỏi về các ơn gọi tu trì, về chủng viện và các hội dòng và trong và ngoài giáo phận, đóng góp tiền của…

3. Thành lập và duy trì nhóm tìm hiểu ơn gọi

Giáo phận cũng như giáo xứ có thể hình thành những nhóm định hướng ơn gọi cho thanh thiếu niên. Nhóm này có thể được xây dựng từ đội giúp lễ hay hay các ca đoàn trong giáo xứ. Tại các giáo xứ, đây là cách dễ hình thành và khá bền vững của nhóm tìm hiểu ơn gọi. Kinh nghiệm thực tế cho thấy có nhiều em trong đội giúp lễ hay ca đoàn đã trở nên những linh mục, tu sĩ. Chính gia đình các em và bản thân các em này đã có những ý hướng muốn dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì nên mới vào đội giúp lễ hay ca đoàn của giáo xứ. Các em này cũng ở trong môi trường thuận lợi cho ơn gọi hình thành và phát triển vì được tham dự thánh lễ thường xuyên qua việc giúp lễ hay tham gia ca đoàn cũng như những sinh hoạt khác của giáo xứ và tập làm quen với công việc trong tinh thần phục vụ dấn thân vô vị lợi.

Cần quan tâm bố trí người chịu trách nhiệm hướng dẫn nhóm này với những chương trình cụ thể: như thời biểu sinh hoạt (không nên quá nhiều), nội dung giáo dục (nhẹ nhàng không quá nặng) về nhân bản, đạo lý và khởi đầu phân định ơn gọi cho các em. Để duy trì tốt nhóm tìm hiểu ơn gọi, cũng cần đến những phương thế đã nêu trên đây: tĩnh tâm cầu nguyện, có người đồng hành thích hợp với những đức tính cần thiết và “nghệ thuật đồng hành”, tạo cơ hội cho nhóm có những dịp để phục vụ - tự nguyện dấn thân, cần hỗ trợ vật chất cho các em được học hành, kể cả bậc đại học trở lên hay cơ hội phát triển những năng khiếu,…

Những nhóm này cần được hỗ trợ tích cực từ phía cha xứ, gia đình, các hội đoàn và những cá nhân nhất là các đại chủng sinh, các linh mục và nữ tu. Thật vậy, «các nhóm này sẽ có thể, trong một bối cảnh cộng đồng, cung cấp những điều kiện thuận lợi cho sự xác quyết và sự tăng trưởng ơn gọi. Vẫn sống trong gia đình mình, đồng thời thường xuyên lui tới với cộng đoàn Kitô hữu để được giúp đỡ trong tiến trình đào tạo, các thiếu niên và thanh niên này không thể bị bỏ mặc đơn độc. Họ cần đến một nhóm riêng rẽ hoặc một cộng đoàn làm nơi quy tụ, để có thể cậy dựa vào đó mà hoàn thành hành trình ơn gọi mà ơn huệ của Chúa Thánh Thần đã khởi xướng nơi họ»[81].

Đối với các Hội dòng, thường có một ban chuyên lo về ơn gọi, có phân công cụ thể người đặc trách, xác định chương trình giáo dục, hướng dẫn, cơ sở tiếp nhận, những hoạt động hay hỗ trợ vật chất và tinh thần nhằm thu hút và nuôi dưỡng mầm ơn gọi[82]. Đó là điều tốt, nhưng cần tránh gây áp lực vô hình với các em.

Trong việc cổ võ ơn gọi, cần thận trọng vì «các ơn gọi mới đến gõ cửa đời sống thánh hiến thì rất đa dạng nên đòi hỏi phải có một sự quan tâm riêng và các cách thức khả dĩ đáp ứng hoàn cảnh cụ thể về nhân bản, thiêng liêng và văn hoá. Vì thế, cần có một sự biện phân thanh thản, không ràng buộc bởi các cám dỗ về số lượng hay hiệu năng, để xác minh tính xác thực của ơn gọi và sự trong sáng của động cơ dưới ánh sáng của đức tin và những mâu thuẫn có thể xảy ra»[83].

4. “Cổ võ ơn gọi online

Có lẽ ai trong chúng ta đều thừa nhận rằng các phương tiện truyền thông hiện nay có ảnh hưởng và đem lại ích lợi rất lớn đến cá nhân và đời sống xã hội. Ngày nay nối kết internet ngày càng phổ biến, dễ dàng với tốc độ ngày càng lớn hơn và có khắp nơi kể cả vùng sâu vùng xa hay trên những chuyến bay dài trên không trung. Thường để tìm thông tin và muốn tìm hiểu điều gì đó, dường như ngay lập tức người ta nghĩ đến công cụ tìm kiếm phổ biết là google. Thế giới chúng ta đang sống, nhất là giới trẻ hôm nay thường dựa vào kỹ thuật truyền thông để khẳng định sự tồn tại của mình, trở thành “công dân kỹ thuật số” hay “cư dân mạng” là điều bình thường. Nhiều người, cách riêng là giới trẻ dần dần có thói quen không bỏ được là online và hằng ngày đều dành giờ khá nhiều để online với nhiều mục đích khác nhau[84]. Chúng ta cần nắm bắt sử dụng phương tiện truyền thông thích hợp theo từng mục đích của mình. Theo đó có lẽ chúng ta cũng nên nghĩ đến một hình thức “cổ võ ơn gọi tu trì online”. Cổ võ ơn gọi online có lẽ sẽ rất nhanh chóng, tiện lợi cho nhiều người dù họ bất kỳ ở đâu và đem lại hiệu quả đôi khi bất ngờ[85].

Trước mắt, trong trang website của giáo phận có thể dành một phần cho cổ võ ơn gọi, trong đó có sự cộng tác dòng tu và chủng viện cùng với một số người có trách nhiệm khác kể cả giáo dân. Nội dung cần thiết là thông tin hữu ích, đời sống, linh đạo, đường hướng, mục đích,… của hội dòng và chủng viện. Cần có thông tin về cách thức và điều kiện để ghi danh tìm hiểu, được tư vấn và giải đáp thắc mắc qua email hay điện thoại trực tiếp gặp người có trách nhiệm; cách thức đóng góp tiền bạc và vật chất hỗ trợ ơn gọi tu trì…

Tiếp đến, thiết nghĩ hai Hội dòng nữ giáo phận Qui Nhơn hiện nay cũng nên xây dựng website riêng cho mình. Khi có trang mạng riêng, nội dung sẽ phong phú hơn, dễ dàng giới thiệu linh đạo, mục đích của dòng hơn và nhất kịp thời hướng dẫn những mầm ơn gọi. Trong thực tế đối với nhiều người vẫn còn khó để có thể tìm thấy trên mạng truyền thông internet những thông tin của hai hội dòng nầy như về lịch sử, linh đạo, đường hướng, hiến chương và nội quy hay những sinh hoạt hiện tại. Xét về mặt nào đó thì đây cũng là một bất lợi không nhỏ cho việc cổ võ ơn gọi. Vài năm gần đây, qua trang mạng của giáo phận Qui Nhơn (gpquinhon.org), chúng ta mới có một số ít thông tin chính thức của những hội dòng hiện diện trong giáo phận, nhưng cũng còn ít ỏi, nhất là đối với những dòng không phải là dòng giáo phận.

Sau nữa, một trong những khó khăn đó là nhân sự để quản trị web, bảo mật và những cộng tác viên viết tin. Do đó cần tận dụng và mạnh dạn sử dụng nguồn nhân sự và cơ sở vật chất có sẵn nơi các giáo xứ, trong các cộng đoàn Hội dòng, nếu cần mời sự cộng tác của người giáo dân có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông. Lâu dài nên cho người đi học chuyên môn về lĩnh vực này.

Cuối cùng, chúng ta cần thận trọng bởi vì dù «các hội dòng được phép tuyên truyền cho dòng mình để cổ võ ơn kêu gọi và tìm các ứng sinh, nhưng phải hành động với sự khôn ngoan cần thiết và tuân giữ những tiêu chuẩn do Tòa Thánh và các Ðấng Bản Quyền đã ban hành»[86].

Chú ý rằng sử dụng phương tiện truyền thông để hỗ trợ chứ không phải thay thế hay quyết định đối với một ơn gọi tu trì. Giáo luật cũng đã nhắc nhở những nguy hại của việc lạm dụng này. «Trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, phải giữ sự phán đoán cần thiết và phải tránh những gì có hại cho ơn gọi riêng và nguy hiểm cho đức khiết tịnh của một người đã được thánh hiến»[87].

5. Đời sống gương mẫu của linh mục và tu sĩ

Phải nói rằng, dưới ánh mắt trẻ em thì nhiều vị linh mục, tu sĩ nam nữ là thần tượng của chúng. Nếu các linh mục và tu sĩ sống hết mực gương mẫu thì thần tượng đó lưu lại nơi các em lâu dài và có ảnh hưởng đến chọn lựa tương lai. Thật vậy, «các tu sĩ hãy nhớ rằng: gương sáng của đời sống cá nhân mới là lời giới thiệu hùng hồn nhất cho hội dòng mình và là lời mời gọi sống đời tu dòng hữu hiệu hơn hết»[88]. Cũng vậy, «các thừa tác viên có chức thánh đóng vai trò hết sức quan trọng bằng chứng từ đức tin và đời sống của mình. Rõ ràng, chính ý thức sâu xa về căn tính của mình, sự nhất quán trong đời sống, niềm vui trong sáng và nhiệt tình truyền giáo của các ngài tạo nên bao yếu tố hét sức cần thiết trong việc mục vụ ơn gọi,… biểu hiện vui tươi gắn bó với mầu nhiệm Chúa Kitô, thái độ cần nguyện, sự chu đáo và sốt sắng của linh mục khi cử hành bí tích thánh thể và các bí tích, sẽ tỏa chiếu ánh sáng và thu hút giới trẻ»[89].

Đức Giám mục giáo phận chúng ta cũng đã tha thiết mời gọi: «các linh mục hãy là những mục tử noi gương Đức Kitô, bằng đời sống thánh thiện, tận tụy hy sinh phục vụ đoàn chiên cách vô vị lợi, năng động nhiệt thành trong việc rao giảng Tin Mừng. Đó là những tấm gương trước hết có sức thu hút nhiều người trẻ khám phá và đón nhận ơn thiên triệu. Các linh mục hãy tìm mọi cách để gieo mầm ơn gọi trong cộng đoàn do mình chăm sóc. Hãy tìm kiếm những em có trí thông minh và hạnh kiểm tốt, thuộc gia đình đạo đức, để giới thiệu ơn gọi, giúp đỡ các em trong việc học hành và tu đức. Đừng ngại hy sinh công sức và tiền bạc cho công cuộc đào tạo nhân sự rất quan trọng và cần thiết này. Các tu sĩ nam nữ trong giáo phận cũng hãy tiếp tay với các linh mục bằng những phương cách như thế, hay bằng những cách thế riêng biệt của từng hội dòng, nhất là trong khung cảnh của Năm Đời Sống Thánh Hiến này, để giới thiệu những linh đạo khác nhau và phong phú trong Hội Thánh, phù hợp với ơn gọi riêng biệt của mỗi em»[90].

Về phương diện cá nhân, người ta thường nói, sự thành công trong cuộc đời của một linh mục được đánh dấu bằng ba việc: thứ nhất, viết được một cuốn sách, thứ hai là xây được một nhà thờ, và thứ ba là hướng dẫn được một người con tinh thần làm linh mục. Điều nầy có thể gây ra nhiều ý kiến khác nhau, nhưng điều thứ ba, chính cuốn “Chỉ nam linh mục năm 2003” của Bộ giáo sĩ nói rõ ràng: «Mỗi linh mục, với ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần, phải lo khơi dậy ít nữa là một ơn gọi linh mục, nhằm có thể tiếp nối tác vụ của mình để phục vụ Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại»[91].

Nhân đây, cũng nên nhắc lại, trong giáo phận Qui Nhơn xưa kia một trong những điều kiện để thu nhận tiểu chủng sinh là: «Gia tư túc dụng. Nếu nhà nghèo, trẻ phải có một linh mục bảo trợ»[92]. Thiết nghĩ hoàn cảnh xã hội ngày nay dù có thay đổi và mức sống khá hơn trước tuy nhiên vẫn còn nhiều em sống nghèo về vật chất lẫn tinh thần đang khao khát được dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì. Nếu chúng ta quan tâm giúp đỡ vật chất và hướng dẫn tâm linh tới nơi tới chốn thì những mầm ơn gọi này phát triển rất tốt. Tuy nhiên cần tế nhị và tránh gây áp lực đối với các em có hoàn cảnh như thế.

KẾT LUẬN

Chúng ta biết rằng ơn gọi xuất phát từ Chúa và là ơn Chúa ban cho Giáo Hội. Giáo Hội thấy rằng cổ võ ơn gọi là điều rất cần thiết vì xuất phát từ bản chất Giáo Hội là truyền giáo. Do vậy, cũng như bổn phận truyền giáo, mọi thành phần dân Chúa đều có bổn phận cổ võ ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đối với linh mục và tu sĩ thì càng đòi hỏi tha thiết thực thi bổn phận này. Cả giáo luật và hiến chương nội qui của các hội dòng đều nhấn mạnh điều này. Đó là một bổn phận có tính pháp lý và chi phối đặc biệt những người có trách nhiệm chính là linh mục và tu sĩ, cách riêng Giám mục giáo phận và cha xứ được chỉ định đích danh.

Những phương thế cổ võ ơn gọi được nhiều văn kiện của Giáo Hội đề nghị thì nhiều và trong thực tế cũng có nhiều sáng kiến rất hay từ những Giáo Hội địa phương, kể cả từ các giáo xứ, các hội dòng. Chúng ta cần tìm hiểu và chia sẻ để áp dụng thích hợp với những hoàn cảnh cụ thể. Trong hoàn cảnh nhiều khó khăn và thách đố hiện nay, muốn được nhiều ơn gọi có phẩm chất để sau này trở nên những “mục tử như lòng Chúa mong ước” và những tu sĩ thánh thiện, ngoài đời sống gương mẫu cá nhân, chúng ta cần phải đầu tư rất nhiều với sự cộng tác của các giáo xứ, giáo hạt, giáo phận, các Hội dòng cũng như đồng trách nhiệm của các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo, các giáo lý viên, các nhà giáo dục, các nhà hảo tâm, những người thiện nguyện, các linh mục, tu sĩ nam nữ…. Nhờ đó, Giáo Hội sẽ có được những chứng nhân Tin Mừng đích thực góp phần thiết thực cho công cuộc Tân Phúc âm hóa hiện nay.

Ý thức được vai trò quan trọng của ơn gọi linh mục và tu sĩ trong đời sống Giáo Hội, chúng ta thấy rằng cổ võ ơn gọi linh mục, tu sĩ cần phải được quan tâm nhiều hơn, cần phải “đầu tư” thích đáng hơn về thời giờ, tiền bạc, nhân sự với bao hy sinh để khơi mầm, nuôi dưỡng những ơn gọi linh mục và tu sĩ. Chúng ta cần kiên nhẫn trong lĩnh vực này bởi vì «trong thời đại vội vã như chúng ta hiện nay, hơn bao giờ hết cần có sự kiên trì và nhẫn nại chờ đợi để thực hiện mục tiêu của việc huấn luyện. Trong những hoàn cảnh mà sự nhanh chóng và nông cạn chiếm ưu thế, thì chúng ta cần có sự thanh thản và thâm trầm, vì trên thực tế con người được hình thành rất chậm»[93]. Điều này càng chính xác hơn đối với việc hình thành một ơn gọi linh mục và tu sĩ vì đó còn là một huyền nhiệm.

“Đầu tư” trong lĩnh vực nầy cũng có thể có người cảm thấy “chẳng lợi lộc gì” vì trước mắt chỉ có tốn kém cho những người được gọi là “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Nhưng ơn gọi là ơn Chúa, chúng ta không thể tính toán đầu tư để sinh lợi theo kiểu trần thế. Là những người làm vườn nho cho Chúa, chúng ta chu toàn bổn phận cổ võ ơn gọi của mình với xác tín rằng «kẻ trồng người tưới.. Thiên Chúa làm cho lớn lên» (1 Cr 3,7). Không phải chỉ vì bổn phận cổ võ ơn gọi có tính pháp lý do luật đã quy định mà còn vì chúng ta những linh mục, tu sĩ đã hưởng những ơn lành nhưng không của Chúa và của những bậc tiền nhân đi trước, “ăn cây nào rào cây đó”, đến lượt mình, như người gieo giống, chúng ta cứ quảng đại “đầu tư” không tính toán tung gieo hạt những hạt mầm ơn gọi và cứ để Chúa là cha nhân hậu, Đấng cho mặt trời chiếu soi và cho mưa rơi xuống trên kẻ lành người dữ (x. Mt 5,45), sẽ làm cho hạt nảy mầm, lớn lên, và rồi sẽ có những “hạt chất lượng”, trong lành tiếp tục được cung cấp cho cánh đồng truyền giáo mênh mông của Giáo Hội, cách riêng là cho chính giáo phận Qui Nhơn chúng ta trên đường Tân Phúc âm hóa. Mỗi người một tay, nối tiếp những gương sáng của tiền nhân, chúng ta chu toàn bổn phận cổ võ ơn gọi bằng chính cả đời sống thánh hiến nhiệt huyết của mình cho Chúa và Giáo Hội. Chúng ta hy vọng những năm sắp tới, giáo phận Qui Nhơn thân yêu sẽ có thêm nhiều ơn gọi linh mục, tu sĩ dồi dào và chất lượng tuyệt hảo để phục vụ cho cánh đồng truyền giáo và công cuộc Tân Phúc âm hóa hiện nay.
 

[1] Xem MAURICE VIDAL, “De l’usage du terme “vocation“, trong Théologie de la vocation, Colloque de l’Institut Catholique de Paris (février 2001), Revue “Jeunes et Vocations”, 3e trimestre, số 102, tr 43-50 (Lm. Phêrô Võ Xuân Tiến chuyển ngữ). Đặc biệt trong tông huấn Pastores Dabo Vobis, ở chương IV trình bày vắn gọn nhưng súc tích về bản chất, nguồn gốc, ý nghĩa., trách nhiệm liên quan đến ơn gọi, đặc biệt xem số 34-37.
[2] Do TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ từ Vocationnetwork.org, có thể xem tại  http://www.thanhlinh.net/node/70141.
[3] Dưới khía cạnh giáo luật, ơn gọi của người Kitô hữu nói chung với những quyền lợi và bổn phận nhất định trong Giáo Hội, có thể xem các điều 208 đến 223.
[4] Ví dụ, về ơn gọi hôn nhân, Giáo luật điều 226§1 khẳng định: Những người sống trong bậc hôn nhân theo ơn gọi riêng có bổn phận đặc biệt phải hoạt động để xây dựng dân Chúa bằng đời sống hôn nhân và gia đình.
[5] Chẳng hạn theo Đức Thánh Cha Phanxicô, «kinh doanh là một ơn gọi, một ơn gọi cao quí, miễn là những người tham gia kinh doanh thấy mình được thách thức bởi một ý nghĩa lớn hơn trong cuộc sống; nó sẽ giúp họ thực sự phục vụ công ích bằng cách cố gắng làm gia tăng của cải cho thế giới này và làm cho mọi người có thể có nhiều của cải hơn» (Evangelii Gaudium số 203).
[6] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 29.
[7] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Lumen Gentium (= LG), số 2, 3, 7, 13, 39-41.
[8] Xem LG số 39 và 42.
[9] Xem LG, số 40.
[10] Xem CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, sắc lệnh Perfectae Caritatis (= PC) số 24; sắc lệnh Ad Gentes (=AG) số 19, và hiến chế LG số 43-44.
[11] LG số 41.
[12] GL điều 219.
[13] Xem LG số 41
[14] LG số 43.
[15] Hạn từ Status trong tiếng latin có nhiều nghĩa khác nhau tùy trong văn mạch mà có thể dịch là tình trạng, trạng huống, trạng thái, chức phận, thành phần, hàng ngũ, lối sống, bậc sống… Về ý nghĩa của hạn từ nầy, có thể xem thêm PHAN TẤN THÀNH Dân Thiên Chúa. Giải thích giáo luật quyển II, Tập I: các tín hữu Kitô. Tr. 14-16.
[16] Xem GL điều 207§1.
[17] Xem thêm LG số 44.
[18] Xem PHAN TẤN THÀNH Dân Thiên Chúa. Giải thích giáo luật quyển II, Tập I: các tín hữu Kitô. Tr. 15.
[19] Nên biết Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã ban hành Tự Sắc “Omnium in Mentem” ngày 26/10/2009 và được ban hành 15/12/2009, trong đó điều chỉnh 5 điều trong giáo luật 1008, 1009, 1086, 1117 và 1124. Theo đó, điều 1008 và 1009 sau khi thay đổi sẽ xác định chính xác hơn chức năng thừa tác của phó tế. Phó Tế thi hành tác vụ trong năng quyền cho phép như: công bố và giảng Lời Chúa, ban bí tích Rửa Tội, chứng hôn… tuy nhiên không phải trong cương vị Chúa Kitô (in persona Christi) như Giám Mục và linh mục.
[20] GL điều 1008. Đây là bản dịch đã có sự thay đổi theo tự sắc Omnium in Mentem.
[21] GL điều 573.
[22] GL điều 574§2
[23] GL điều 225§2.
[24] Có thể xem thống kê trong Niên giám Tòa Thánh, chẳng hạn theo Niên giám thống kê của Giáo Hội năm 2013: Số đại chủng sinh - thuộc cả giáo phận và các dòng tu - là 118,251 vào cuối năm 2013, giảm 2% so với cuối năm 2011. Tính riêng, châu Á giảm 0.5%, châu Âu giảm 3.6% và Bắc Mỹ giảm 5.2%. Tuy nhiên số đại chủng sinh tại châu Phi tăng thêm 1.5%. Số nữ tu giảm đáng kể: đến cuối năm chỉ còn 693,575 nữ tu so với 760,529 vào năm 2005. Tại châu Âu giảm 18.3%, châu Ðại Dương giảm 17.1%, và châu Mỹ giảm 15.5. Tuy nhiên, số nữ tu đã tăng thêm 18% ở châu Phi và 10% ở châu Á.
[25] Ví dụ, GL các điều 215; 217; 234; 385; 387; 574; 587; 791…
[26] Xem. P. V. Pinto (a cura di) Commento al codice di diritto canonico, Città del Vaticano 2001, tr. 143-144.
[27] R. M. Pizzorni, Filosofia del diritto, Roma 1971, 42-43.
[28] R. M. Pizzorni, Filosofia del diritto, Roma 1971, 43.
[29] Người ta nhận thấy rằng trong 16 văn kiện của công đồng Vaticanô II thì chỉ có hai văn kiên không nói đến tu sĩ đó là tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, Nostra Aetatae và tuyên ngôn về tự do tôn giáo Dignitatis Huamnae.
[30] Để hiểu tính chất pháp lý của Huấn thị, xem GL điều 34.
[31] G. Aranha, The mission of the family in the Church in the light of can. 226§1, Roma 2002, 121-122. Trong quyển I giáo luật, đề mục I có tựa đề: “nghĩa vụ và quyền lợi của mọi Kitô hữu” và đề mục 2: “Nghĩa vụ và quyền lợi của giáo dân”, (obligationibus et iuribus). Tuy nhiên cả hai hạn từ nghĩa vụ và bổn phận (obligatioofficium) đều được sử dụng. Hạn từ nghĩa vụ và bổn phận có thể được coi gần như đồng nghĩa với nhau, dù giữa chúng có sự khác biệt về ý nghĩa, tùy thuộc văn mạch sử dụng khác nhau. Xem R. Guastini, «Dovere giuridico», trong Enciclopedia giuridica, Roma 1989, vol. XII, 1-7; e «Obbligo», trong Enciclopedia giuridica, Roma 1990, vol. 31,1-6.
[32] GIOAN PHAOLÔ II, tông huấn Pastores Dabo Vobis, 25.3.1992, (=PDV), số 41.
[33] Xem BỘ ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ HIỆP HỘI ĐỜI SỐNG TÔNG ĐỒ, Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, (19.5.2002), số 7 đến 10.
[34] Xem GL điều 1752.
[35] Xem GL các điều 204; 215; 226; 233; 385; 791…; một số văn kiện công đồng như sắc lệnh Optatam Totius số 2; PC số 24; Tông huấn PDV số 41; Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 16-17; GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Familiaris consortio (22.11.981), số 66.
[36] PDV số 41.
[37] Xem GL điều 385.
[38] PDV số 41; Presbyterorum Orrdinis số 11.
[39] PC số 24.
[40] GL điều 233.
[41] PDV số 74.
[42] Xem PC số 24, và Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 16.
[43] Xem GL điều 670.
[44] OT số 2.
[45] PDV số 41
[46] Xem PDV số 41 và xem thêm chỉ dẫn cụ thể vai trò cổ võ ơn gọi của giáo xứ, hội đoàn, nhóm người trẻ, hiệp hội…trong PDV số 68.
[47] OT số 2.
[48] GL điều 226.
[49] GL điều 233§1.
[50] PDV số 41. Về tầm quan trọng và vai trò giáo dục của gia đình, xem Tông huấn Familiaris Consortio số 36-39.
[51] GL điều 574§1.
[52] OT số 2.
[53] AG số 6.
[54] Giáo Lý Hội của Thánh Công Giáo, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2009, số 1565. Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức tin trực thuộc HĐGM Việt Nam.
[55] Xem A. Mendonça, «Promotion and protection of rights in the Church», trong Philippiniana sacra 33 (1998) 445. và xem PDV số 41.
[56] Đó cũng là nhận định cúa Đức Cha Phêrô Nguyễn Soạn và Đức Cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi đối với ơn gọi linh mục và tu sĩ trong giáo phận Qui Nhơn. Xem Thư hai Đức Giám Mục giáo phận Qui Nhơn gởi các linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và anh chị em tín hữu giáo phận Qui Nhơn nhân ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ, 05.05.2011, trong Bản Thông Tin giáo phận Qui Nhơn số 157, tháng 5. 2011, tr. 376.
[57] PHANXICÔ, Tông thư Năm đời sống Thánh hiến (21.11.2014), số I,3.
[58] PDV số 37.
[59] Xem F.x VŨ PHAN LONG, Tu sĩ trẻ Việt Nam những thách đố và những cơ may, trong Hiệp Thông, Bản tin của HĐGM Việt Nam, số 88 (tháng 5&6 năm 2015), tr. 72-84.
[60] Xem HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Đào tạo linh mục, định hướng và chỉ dẫn (gọi tắt là Ratio). NXB Tôn Giáo, 2012. tr. 61-63.
[61] Xem F.X VŨ PHAN LONG, Tu sĩ trẻ Việt nam những thách đố và những cơ may, trong Hiệp Thông, Bản tin của HĐGM Việt Nam, số 88 (tháng 5&6 năm 2015), tr. 84.
[62] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 16.
[63] PDV số 38.
[64] BỘ Giáo Sĩ, Kim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục 2013, số 43.
[65] PDV số 38.
[66] PDV số 39.
[67] PDV số 40.
[68] PDV số 40
[69] Xem PHANXICÔ, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Evangelii Gaudium, số 169, 170… (=Evangelii Gaudium). Về vấn đề “nghệ thuật đồng hành theo tông huấn Evangelii Gaudium”, mời xem lại bài “Canh tân đời sống kỷ luật và nghệ thuật đồng hành” của Lm. Huỳnh Văn Sỹ, trong cuốn “Evangelii Gaudium - niềm vui Tin Mừng, một Hội Thánh mở cửa, khóa thường huấn linh mục giáo phận Qui Nhơn năm 2014, tr. 62-96.
[70] PDV số 40.
[71] PDV số 40
[72] PDV số 40
[73] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 16.
[74] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 16.
[75] OT số 2.
[76] PDV số 39.
[77] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 17.
[78] PDV số 37.
[79] GL điều 219; 574. Điều này cũng được thể hiện nơi giáo luật điều 684 về việc chuyển dòng. Trong đó lý do chuyển dòng có thể vì đương sự ước ao một đời sống tu trì nhiệm nhặt hơn hoặc thích hợp hơn với ý hướng và khả năng của mình, lý do chuyển dòng cũng có thể do những khó khăn trong việc giữ quy luật dòng nào đó hay cũng có thể do yếu tố luân lý và môi trường… Người có trách nhiệm phải tôn trọng ý muốn chuyển dòng và không nên loại trừ họ.
[80] GL điều 215.
[81] PDV số 64.
[82] Ví dụ, xem Hiến Chương Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn, điều 78§2. Hiến Pháp Dòng Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình giáo phận Ban Mê Thuột, điều 90§2 quy định cụ thể hơn, đó là nơi mỗi cộng đoàn, chị em:
a. Thao thức, nỗ lực tìm kiếm và nâng đỡ ơn gọi.
b. Niềm nở đón tiếp các em cảm tình viên.
c. Khích lệ các em học giáo lý, đọc Kinh Thánh, học văn hóa, học nghề, tham gia vào các sinh hoạt giáo xứ.
d. Hướng dẫn các em sống đúng ơn gọi Kitô hữu, làm quen với ơn gọi thánh hiến…
[83] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 18.
[84] Chúng ta có thể thấy con số thống kê theo ngày, theo tháng và tổng số lượt truy cập vào website giáo phận Qui Nhơn chúng ta (gpquinhon.org) là khá lớn, cũng có lúc trên 8.000-10.000 ngàn lượt truy cập trong một ngày.
[85] Linh mục Hồng Phúc, (C.Cs.R) kể rằng: Cha Giuse Lupo, Giám đốc ơn gọi của Dòng Thiên Chúa Ba Ngôi tại Hoa Kỳ, năm 1971 có sáng kiến đăng một quảng cáo nhỏ về ơn kêu gọi trong tạp chí mà nhiều thanh niên hay đọc, tạp chí Playboy. Kết quả bất ngờ: nhờ quảng cáo ấy mà 27 chàng thanh niên đã đến tìm hiểu Tập Viện và Ðại Chủng Viện của Dòng tại Garrison, tiểu bang Maryland. (HỒNG PHÚC, Dấu chỉ ơn gọi, http://www.cuuthe.com/ongoi/ogdauchi.html
[86] PC số 24
[87] GL điều  666.
[88] PC số 24.
[89] BỘ Giáo Sĩ, Kim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục 2013, số 43.
[90] MATTHÊÔ NGUYỄN VĂN KHÔI, Thư Đức Giám Mục giáo phận gửi mọi thành phần dân Chúa giáo phận Qui Nhơn nhân ngày cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ, 26.4.2015, số 2, trong Bản Thông Tin Giáo phận Qui Nhơn, số 204, tháng 4.2015, tr. 219.
[91] BỘ Giáo Sĩ, Kim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục 2013, số 43.
[92] Bản Thông Tin Địa phận Qui Nhơn, số 20, tháng 1-2 năm 1961, tr.13.
[93] Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô, số 18.

Tác giả: ​​​​​​​Lm. Giuse Huỳnh Văn Sỹ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

check
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
check